Menu tin tức

now browsing by category

 

Ông Vũ Đức Đam: Một quốc gia khởi nghiệp không cần đao to búa lớn

Mong muốn tinh thần “quốc gia khởi nghiệp” lan ra toàn xã hội, Phó thủ tướng đồng thời kêu gọi cộng đồng start-up kết nối với nhau nhiều hơn, thay vì chỉ là hô hào hình thức.

Buổi hội thảo “Khởi động sáng kiến khởi nghiệp quốc gia” diễn ra ngày 30/3 đã thu hút sự chú ý của đông đảo các doanh nghiệp, giới trẻ khi có sự tham gia của Phó thủ tướng Vũ Đức Đam – người vẫn luôn dành sự ủng hộ cho cộng đồng start-up.

Vị đại diện Chính phủ cũng thẳng thắn đề cập tới thực tế thiếu tính kết nối trong cộng đồng start-up Việt và căn bệnh “có nhiều người giỏi sơ sơ mỗi thứ một tí” của Việt Nam. “Phần lớn ở nước ta, những vấn đề có tính chất công nghệ không dồn sức đi sâu vào tận cùng mà chỉ đi rộng, khoán. Chúng ta thiếu những chuyên gia thật giỏi, những start-up thật sự giỏi”, ông nói.

ong-vu-duc-dam-mot-quoc-gia-khoi-nghiep-khong-can-dao-to-bua-lon

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam (thứ 2 từ phải) và Chủ tịch FPT – Trương Gia Bình (ngồi kế) tại hội thảo khởi động Sáng kiến khởi nghiệp quốc gia.

Theo ông, nếu mong muốn là một quốc gia khởi nghiệp thì tinh thần khởi nghiệp phải là từ khóa ở mọi diễn đàn, nhen dần lên để cộng đồng nhỏ lan ra toàn xã hội mà không cần “đao to búa lớn”. “Điều quan trọng nhất là tất cả mọi người phải ứng dụng khoa học công nghệ, phải sáng tạo để đất nước giàu lên, không cẩn thận từ khóa ‘quốc gia khởi nghiệp’ lại giống mấy chục năm trước nói công nghiệp hóa mà chỉ là hình thức. Tôi muốn bước ra cùng các bạn để tạo cộng đồng, vườn ươm để Việt Nam của thế hệ tiếp theo có thể đào sâu hơn nữa”, ông Đam bày tỏ.

Cũng trong chương trình hội thảo, Công ty cổ phần FPT và Quỹ đầu tư dài hạn Dragon CapitalGroup đã ký thỏa thuận hợp tác về việc thành lập Quỹ tăng tốc khởi nghiệp Việt Nam (Vietnam Innovative Startup Accelerator, gọi tắt là VIISA). VIISA sẽ là một quỹ mở, có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp lớn, quỹ đầu tư mà trong đó FPT và Dragon Capital Group là 2 nhà sáng lập đầu tiên. Mục đích của quỹ là đào tạo, đầu tư, hỗ trợ các nhóm khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệthông tin, mobile, internet, tài chính để trở thành các doanh nghiệp thành công. Dự kiến trong quý II/2016, khóa đào tạo tăng tốc khởi nghiệp đầu tiên của VIISAsẽ chính thức bắt đầu.

Chia sẻ với Phó thủ tướng, hầu hết các diễn giả cũng nhìn nhận kết nối là nền tảng sáng tạo để xây dựng được một quốc gia khởi nghiệp. Tuy nhiên, nhiều ý kiến còn cho rằng thay đổi giáo dục từ gốc sẽ là một chìa khóa hữu hiệu để thực hiện tham vọng này. Ông Hoàng Minh Sơn (Hiệu trưởng ĐH Bách Khoa) cho rằng 2 yếu tố quan trọng để thành công là ý tưởng đặc sắc và công nghệ đặc sắc. “Để có ý tưởng cần có tính sáng tạo, tôi mong muốn hệ thống giáo dục phổ thông thúc đẩy tính sáng tạo cho học sinh từ bé. Ngoài ra trong việc nghiên cứu phải hỗ trợ cho sinh viên để nghiên cứu khởi nghiệp vì có nhiều rủi ro… Cần tài trợ cho nghiên cứu chứ không chỉ theo kiểu đề tài nghiệm thu”, ông nói.

Đại diện cho nơi được xem là “vườn ươm”, bà Lê Thị Oanh – Hiệu truởng Truờng Hà Nội Amsterdam cũng nhắc lại chuyện ngôi trường này làm một dự án start-up năm 1996 để chứng minh rằng khởi nghiệp không cần cứ đợi đến năm nào cả, các bạn trẻ 12-14 tuổi vẫn làm được.

Đại diện của IDG Ventures cũng nêu thực tế rằng các công ty khởi nghiệp ở Việt Nam được định giá không kém gì Malaysia và Singapore nhưng nền tảng bền vững lại không bằng các nước họ. Do đó, ông nhận định: “Nếu đổi mới giáo dục từ gốc thì 5-10 năm nữa chúng ta sẽ có được một thế hệ start-up tuyệt vời”.

Đến từ Israel – nơi vẫn được gọi là “quốc gia khởi nghiệp”, Đại sứ Meirav Eilon Shahar không quên nhắc đến việc đầu tư vào tài chính, bên cạnh giáo dục, để phát triển ý tưởng này. Thậm chí, theo bà, yếu tố tài chính là quan trọng nhất. “Israel có tôn chỉ để thị trường định hướng, Chính phủ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Từ những năm 90, Israel cũng bắt đầu chương trình hỗ trợ khởi nghiệp nhưng đến nay không cần nữa vì đã có đầu tư từ khối tư nhân”, bà cho biết. Hiện nay ở Israel có 19 vườn ươm khởi nghiệp và cách điều hành là Chính phủ không trực tiếp làm mà cho tư nhân đấu thầu, tiền không về tay Chính phủ mà 50% đổ vào các doanh nghiệp.

Chủ tịch HĐQT FPT Trương Gia Bình cũng nêu ví dụ của Singapore – nước lọt top 10 thế giới về cạnh tranh khởi nghiệp. “Ở đó quỹ đầu tư nhiều vô kể, ở Việt Nam lại quá giới hạn, chỉ bằng một phần mười. Cần cơ chế để tăng gấp 10 lần tinh thần khởi nghiệp quốc gia”, ông nói.

Cũng về vấn đề tài chính, ông Lê Xuân Hòa – Tổng thư ký Vinasa cho rằng cần có môi trường thuế, tài chính thuận lợi cho các start-up. “Nhiều bạn trẻ khởi nghiệp Công nghệ thông tin nhưng lại ra nước ngoài tiến hành. Nhiều nhóm chỉ 2-3 ngựời kiếm được hàng triệu USD nhưng lại ở nước ngoài. Chính phủ cần có hỗ trợ về thuế thu nhập doanh nghiệp và cần có cơ chế với các doanh nghiệp đã dành ngân sách cho vườn ươm khởi nghiệp”, ông nói.

Tại hội thảo, những người trực tiếp điều hành doanh nghiệp cũng nhân cơ hội này bộc bạch vướng mắc với người đại diện Chính phủ. Đại diện Quỹ đầu tư mạo hiểm IDG Venture cho biết nhiều trường hợp khi định giá quỹ đầu tư cao thì lại bị cơ quan thuế nói định giá tài sản vô hình như vậy là vô lý.

“Doanh nghiệp vướng nhiều vấn đề giấy phép con. Giấy phép game là một ví dụ điển hình, mất 3-4 tháng mới xong thì không làm được game nữa vì vòng đời của game rất ngắn”, vị này nói. Bên cạnh đó, đại diện IDG cũng đề cập nhiều về chính sách thuế bất cập chưa khuyến khích start-up của Việt Nam.

Phản hồi ngay sau đó, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đồng tình Chính phủ sẽ bàn thảo nhiều để làm chính sách thuế khuyến khích công nghệ thông tin nhưng theo ông vẫn cần nhìn đúng vào bản chất hơn. “Chính sách thuế, khoa học của Israel không khác các nước khác là mấy. Chính phủ Việt Nam không phải không sẵn sàng đầu tư mà bản chất là đầu tư cho khoa học và giáo dục rất nhiều”, ông nói.

“Các bạn nghiên cứu kỹ, làm ra trường hợp cụ thể rồi nói vướng ở chỗ nào. Nếu vướng ở tầm Chính phủ mà các dự án của các bạn thuyết phục thật sự thì làm rất nhanh. Chính phủ sẵn sàng bàn về các nghị quyết chuyên đề. Nó không phải đơn vị đo bằng ngày, tuần nhưng chắc không đo bằng năm”, đại diện Chính phủ hứa hẹn.

Theo VnExpress

Bí thư Đinh La Thăng: Tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư đến TPHCM

(Dân trí) Đó là khẳng định của Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM với đại diện một tập đoàn thuộc Bộ Tài chính Singapore trong buổi xúc vào chiều 29/2.

Trò chuyện với bà Cheo Hock Kuan, Giám đốc cao cấp phụ trách chiến lược của Tập đoàn Temasek Holdings, ông Đinh La Thăng nhấn mạnh rằng trong thời gian tới, TPHCM sẽ mở rộng cửa và quan tâm hơn nữa tới nhà đầu tư nước ngoài (FDI). TPHCM sẽ tăng cường cải cách hành chính, tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư đến hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn TPHCM.

Bí thư Thành ủy TPHCM cho rằng, việc lắng nghe các nhà đầu tư chính là cách để hoàn thiện môi trường kinh doanh của thành phố. Vì thế, bất kỳ doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tại TPHCM có thể phản ánh thông tin thông qua đường dây nóng của UBND cùng các sở ban ngành. Thành ủy, UBND TPHCM sẽ tiếp nhận đầy đủ và chủ động chỉ đạo các Sở ngành liên quan tháo gỡ vướng mắc, khó khăn.

Bí thư Thành ủy TPHCM Đinh La Thăng tiếp đại diện Tập đoàn Temasek Holdings thuộc Bộ Tài chính Singapore
Bí thư Thành ủy TPHCM Đinh La Thăng tiếp đại diện Tập đoàn Temasek Holdings thuộc Bộ Tài chính Singapore

TPHCM cam kết không để doanh nghiệp, nhà đầu tư phải bị động khi kinh doanh, làm ăn tại “Hòn ngọc Viễn Đông” này mà sẽ chủ động nắm bắt tình hình kinh doanh của các nhà đầu tư, doanh nghiệp khi có vấn đề phát sinh, không chờ đến khi được phản ánh trên đường dây nóng mới thực hiện.

Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng mong muốn các nhà đầu tư tăng tốc đầu tư hơn nữa vào các dự án hiện tại cũng như tăng giá trị đầu tư ở các dự án mới vào TPHCM.

Riêng với Temasek Holdings, ông Đinh La Thăng đề nghị tập đoàn này đầu tư nhiều hơn nữa vào TPHCM và bản thân ông Thăng sẽ luôn sẵn sàng ủng hộ tập đoàn này cũng như các nhà đầu tư khác.

Bà Cheo Hock Kuan, Giám đốc cao cấp phụ trách chiến lược của Tập đoàn Temasek Holdings đã gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự quan tâm của Bí thư Đinh La Thăng về thiện chí quan tâm tới tập đoàn nói riêng và nhà đầu tư FDI nói chung. Bà Cheo Hock Kuan mong muốn nhận được nhiều hơn nữa sự quan tâm của Bí thư Thành ủy TPHCM. Đại diện tập đoàn Temasek Holdings tin tưởng TPHCM sẽ là “đất lành” để mình vươn tới những tầm cao mới.

Công Quang

Những mảnh ghép còn thiếu của thị trường bán lẻ Việt Nam

Một khi thị trường bán lẻ Việt Nam bổ sung thêm các mảnh ghép đang còn thiếu thì các nhà bán lẻ nước ngoài ngay lập tức sẽ nhìn ra và thâm nhập thị trường ngay mà không cần phải làm gì nhiều để thu hút.

Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield Châu Á – TBD
Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield châu Á – Thái Bình Dương

Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield châu Á – Thái Bình Dương đã chia sẻ về thị trường bán lẻ Việt Nam trong việc thu hút các thương hiệu nước ngoài gia nhập thị trường.

Trước ngưỡng cửa TPP, rất nhiều người hào hứng và trông đợi Hiệp định này sẽ làm thay đổi và phát triển thị trường bán lẻ. Liệu Việt Nam có bị biến động mạnh hơn?

Tôi đồng ý là Hiệp định này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho thị trường, tuy nhiên chắc chắn không phải doanh số bán lẻ đột nhiên tăng đột biến hay sự gia nhập rầm rộ của các nhà bán lẻ nước ngoài chỉ sau một đêm.

Chính những thành phần tham gia vào thị trường bán lẻ hiện nay sẽ giúp các nhà bán lẻ nước ngoài quyết định gia nhập thị trường hay không? Họ là những nhà làm chính sách, các nhà bán lẻ trong nước, các nhà phát triển bất động sản bán lẻ, người dân… Họ không chỉ kích thích kinh tế từ hoạt động mua sắm đơn thuần mà cung cấp những tiện ích nhằm làm thay đổi thói quen người dân khi mua sắm (từ chợ truyền thống chuyển sang siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại…), thay đổi thói quen sinh hoạt (ăn uống tại nhà hàng, vui chơi cuối tuần..), cung cấp sản phẩm chất lượng tốt với giá cả vừa phải, nâng lương nhằm tăng khả năng chi trả, cải thiện đường sá đô thị, tiện ích hạ tầng….

Một khi thị trường bán lẻ Việt Nam bổ sung thêm các mảnh ghép đang còn thiếu để trở thành một thị trường trưởng thành hơn, thì các nhà bán lẻ nước ngoài ngay lập tức sẽ nhìn ra được và gia nhập thị trường ngay mà chúng ta không cần phải làm gì nhiều để thu hút cả.

Tôi nghĩ thông điệp của TPP mang đến chính là “cơ hội và thách thức”, rất nhiều thứ sẽ thay đổi, không chỉ đơn thuần các rào cản thương mại, hàng rào thuế quan…mà còn là vấn đề thói quen sinh hoạt và mua sắm của người dân sẽ tác động rất lớn đến thị trường bán lẻ, kể cả việc cải thiện sức khỏe nền kinh tế.

Theo ông thì ngành hàng nào của thị trường bán lẻ đang nóng và đang thu hút nhà đầu tư nhất?

Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt. Để phát triển bền vững, các bạn nên tập trung vào thị trường 90 triệu dân Việt Nam và tìm cách tái định vị vai trò của các bạn đối với cuộc sống của họ, thay đổi thói quen sinh hoạt và mua sắm của họ.

Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt
Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt

Đặc biệt, trả lời được câu hỏi trung tâm thương mại/cửa hàng tiện ích/siêu thị của các bạn đã thu hút được người dân đến mức độ nào?. Chiếm bao nhiêu % thời gian trong cuộc sống của họ, có quan trọng đối với cuộc sống của họ không?. Đây là những câu hỏi có tính then chốt đến chiến lược kinh doanh và phát triển của họ.

Một khía cạnh quan trọng nữa cần nói đến chính là sức mua. Việt Nam là một trong những quốc gia có sức mua tăng trưởng nhất tại châu Á và vẫn đang tiếp tục tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, cũng cần phải nói một chút xung quanh vấn đề này, ví dụ như việc đi du lịch, tỷ lệ người dân đi du lịch nước ngoài tại Việt Nam chiếm khoảng 5% dân số nhưng nếu những người đi du lịch này không biết, không thấy và không tìm hiểu về các thương hiệu nước ngoài khi đi du lịch thì rất ít khả năng họ sẽ mua những thương hiệu này khi họ có mặt tại Việt Nam.

Như vậy, để thị trường trưởng thành thì phải có sự thay đổi một cách đồng bộ.

Vậy sau khi gia nhập TPP, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, giá cả hàng hóa sẽ rẻ hơn và người dân sẽ tăng khả năng tiếp cận được với hàng hóa nằm trong khả năng chi trả của họ, điều này sẽ cải thiện được thói quen mua sắm của họ không?

Theo tôi được biết thì tại đa số các nước châu Á, mức thuế cao nhất được áp dụng cho hàng hóa xa xỉ, nằm trong khoảng 20 – 30%, và các mặt hàng này không bị ảnh hưởng gì bởi TPP vì vẫn bị đánh thuế như thường.

Chỉ có các loại hàng hóa tầm trung, phổ thông sẽ được hưởng lợi nhiều nhất vì hàng rào thuế quan được gỡ bỏ. Lợi ích lớn nhất mà TPP mang lại chính là sự lưu thông hàng hóa, tư do thương mại.

Quay trở lại với việc mở rộng quy mô và mạng lưới kinh doanh của các nhà bán lẻ, họ sẽ tìm kiếm các nước nằm cùng trong một khu vực có vị trí liền kề nhau như Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Hàng hóa tập trung tại một nước và vận chuyển qua các nước lân cận sẽ nhanh và rẻ hơn nhiều so với việc vận chuyến qua các nước khác khu vực, hơn nữa vận chuyển hàng hóa giữa các nước liền kề này thì thuế suất rất thấp, thập chí không có thuế. Họ sẽ ngày càng tập trung nguồn lực và đầu tư vào các thị trường tiềm năng nằm trong cùng một khu vực địa lý.

Vậy thách thức đối với các thương hiệu này là gì?

Một trong những khó khăn lớn nhất cho những nhà bán lẻ chính là nhìn mọi vấn đề ở quy mô toàn cầu nhưng phải phân bố nguồn lực một cách phù hợp nhất để mang lại lợi nhuận cho thương hiệu và cho cổ đông.

Một quốc gia có thể có sự tăng trưởng lợi nhuận cao, thị trường bán lẻ rất tiềm năng nhưng nếu đó là một thị trường nhỏ hoặc nhỏ hơn các quốc gia như Indonesia, Ấn Độ hay Trung Quốc thì thứ tự ưu tiên sẽ phải được xem lại.

Nếu các quốc gia nằm gần nhau tạo thành một thị trường chung có các quy định dành cho nhà bán lẻ tương đồng, thuế suất ít hơn (Liên minh châu Âu là một ví dụ) thì các nhà bán lẻ sẽ xem xét việc tiến vào thị trường chung này. Bởi lúc này nó là một thể thống nhất, nhân lực của họ cũng tinh gọn hơn rất nhiều chứ không phải chia ra từng nhóm phụ trách từng nước với các quy trình được lặp lại ở từng quốc gia.

H&M, ZARA là đối thủ của nhau nhưng họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại vì điều này sẽ mang nhiều khách hàng đến mua sắm hơn.
H&M, ZARA là đối thủ của nhau nhưng họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại vì điều này sẽ mang nhiều khách hàng đến mua sắm hơn

Giống như những thương hiệu H&M hay ZARA, họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại bởi vì điều này sẽ mang lại nhiều khách hàng đến mua sắm hơn. Cũng như vậy, các nước thành viên của TPP nên sát cánh hỗ trợ nhau để mang lại lợi ích rộng rãi hơn cho người dân các nước thành viên. Họ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau trong một vài mặt nhưng nếu cùng nhìn về đại cục thì sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các bên, và đó cũng là mục đích của các Hiệp định thương mại nói chung.

Còn rào cản nào nữa không, thưa ông?

Đó là làm sao tạo được lòng tin từ người tiêu dùng, những người bỏ ra rất nhiều tiền để sở hữu hàng cao cấp. Tâm lý chung của họ là thường không mấy tin tưởng vào hàng cao cấp họ mua trong nước hoặc tại các nước đang phát triển.

Singapore là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch Việt Nam nhất. Nếu giá cả hàng hiệu tại TP.HCM cao hơn thì người dân nơi đây sẵn sàng bay qua Singapore để mua sắm hàng hiệu
Singapore là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch Việt Nam nhất. Nếu giá cả hàng hiệu tại TP.HCM cao hơn thì người dân nơi đây sẵn sàng bay qua Singapore để mua sắm

Một điều nữa không thể không nhắc đến chính là số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, 3 địa điểm mà người Việt Nam mong muốn đến nhất là Paris, New York và Singapore nhưng thực tế thì Singapore, Thái Lan, Campuchia và Myanmar lại là những nơi mà người Việt đi du lịch nhiều nhất.

Ngoài ra, hình thức thanh toán bằng thẻ. Với một quốc gia mà hình thức thanh toán bằng thẻ mới chỉ chiếm 5% so với các hình thức thanh toán khác như Việt Nam thì thị trường cần thêm thời gian để đạt đến sự phát triển cần có.

Vậy ông sẽ nói gì với các thương hiệu cao cấp nếu họ muốn vào thị trường Việt Nam?

Tôi sẽ khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam theo hình thức trực tiếp vì mức thu nhập người dân đang được tăng lên tương ứng với khả năng chi tiêu. Việc họ phải làm là quảng bá thương hiệu đến khách hàng, tính toán để giá cả hợp lý nhất có thể vì khách hàng hiện nay cực kỳ nhạy bén và thông minh, họ có internet để kiểm tra giá cả.

Họ có thể biện hộ là do chi phí trung gian, lãi suất… khiến giá cả đội lên và dồn hết chi phí này cho khách hàng. Việc này sẽ khiến khách hàng có ấn tượng xấu về thương hiệu và họ nghĩ nhà sản xuất tham lam.

Anh Hoa

TÌNH HÌNH CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THÁNG 11 VÀ 11 THÁNG ĐẦU NĂM 2015

1.  Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 năm 2015    

Trong tháng 11/2015, số doanh nghiệp được thành lập mới là 9.311 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 52.583 tỷ đồng, tăng 1,3% về số doanh nghiệp và giảm 19,3% về số vốn đăng ký so với tháng 10 năm 2015.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng 11 đạt 5,6 tỷ đồng, giảm 21,1% so với tháng trước.

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 11 là 159,45 nghìn lao động, giảm 0,15% so với tháng trước.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động trong tháng 11 của cả nước là 827 doanh nghiệp, tăng 21,8% so với tháng 10 năm 2015.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tháng 11 là 4.768 doanh nghiệp, giảm 65,5% so với tháng trước, trong đó: 1.536 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 3.232 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

Số doanh nghiệp trước tạm ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động không đăng ký nay quay trở lại hoạt động trong tháng 11 trên cả nước là 2.448 doanh nghiệp, giảm 26,9% so với tháng 10 năm 2015.

2. Tình hình doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đầu năm 2015

– Về tình hình chung:       

Trong 11 tháng đầu năm 2015, cả nước có 86.853 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 538.671 tỷ đồng, tăng 28,12% về số doanh nghiệp và tăng 37,66% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước (So sánh 2014/2013: doanh nghiệp giảm 4,5%; vốn tăng 8,9%).

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng đầu năm 2015 là 1.280.855 tỷ đồng, bao gồm: tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 538.671 tỷ đồng và tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là 742.184 tỷ đồng.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt 6,2 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đầu năm 2015 là 1.318,4 nghìn lao động, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm trước.

– Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo vùng lãnh thổ:

Theo số liệu thống kê tại Biểu đồ 1 về các vùng của cả nước trong 11 tháng đầu năm 2015 cho thấy cũng như các năm 2013 và 2014 thì vùng Đông Nam Bộ vẫn là vùng có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập nhiều nhất, vùng Tây Nguyên là vùng có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập thấp nhất.

Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập theo vùng trong 11 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm 2014, cho thấy duy nhất khu vực Tây Nguyên là có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 8,6%; Ở chiều ngược lại, các khu vực khác đều có tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng, bao gồm các khu vực là Đồng bằng Sông Hồng tăng 33,4%; tiếp đến là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc tăng 30,7%; Đông Nam Bộ tăng 29,7%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tăng 25,1% và Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 20,7%.

Nếu so sánh tỷ lệ biến động tăng, giảm doanh nghiệp đăng ký thành lập tại các vùng theo các năm 2015/2014 và 2014/2013 thì tại các vùng trong cả nước cho thấy 2 xu hướng biến động trái ngược nhau qua các năm.

 

 

– Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới phân theo ngành, lĩnh vực hoạt động:

Trong 11 tháng đầu năm 2015, tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập tăng ở tất cả các ngành, lĩnh vực so với cùng kỳ năm 2014. Một số ngành có tỷ lệ tăng cao trên 50%, gồm có: Kinh doanh bất động sản tăng 77,8%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 68,2%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 63,9%.

Biểu đồ 3: Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo ngành, lĩnh vực hoạt động

 

 

          Lê Văn Kiên

(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)

Cần xử lý nghiêm các đối tượng sản xuất, buôn bán mặt hàng phân bón giả

– Theo TW Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hơn 10 năm qua, tình hình sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng vẫn tiềm tàng với mức độ ngày càng phức tạp, tinh vi hơn, gây thiệt hại 02 tỷ USD cho nông sản Việt Nam mỗi năm.

Loạn thị trường phân bón

Phân bón là vật tư quan trọng, chiếm 50%-70% chi phí sản xuất và quyết định đến 40% năng suất cây trồng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện thị trường phân bón Việt Nam đang có khoảng hơn 7.000 chủng loại, như: phân hóa học, phân hữu cơ, phân vi lượng… Trong đó, các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang quản lý gần 5.300 loại phân bón đã có trong danh mục chính thức (phân hữu cơ). Còn Bộ Công Thương đã cấp giấy hợp chuẩn, hợp quy cho gần 1.000 loại (phân bón vô cơ). Ngoài ra, tại thị trường vẫn đang lưu hành những loại phân bón truyền thống nằm ngoài danh mục ước tính cũng gần 1.000 thương hiệu.

Đánh giá về vấn đề quản lý phân bón của nước ta, trong phiên thảo luận về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 kỳ họp thứ X Quốc hội khóa XIII diễn ra sáng 02/11/2015, TS. Nguyễn Sỹ Cương, đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, cho rằng, Việt Nam có quá nhiều loại phân bón, trong khi các quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp khá lớn chỉ sử dụng 20-30 loại, ngay như Thái Lan cũng chỉ có 100 loại phân bón. Do đó, rất khó cho quản lý, sản xuất, kinh doanh.

Hơn nữa, trong “ma trận” sản phẩm phân bón đang lưu hành trên thị trường hiện nay việc hướng dẫn nông dân lựa chọn được các sản phảm chất lượng cũng là một việc hết sức khó khăn. Từ đây, cũng dẫn đến việc sản xuất phân bón giả, phân bón nhái và giả mạo thương hiệu tràn lan. Phổ biến là những loại phân kém chất lượng tới mức chỉ còn 10%-30% hàm lượng theo đăng ký và công bố. Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng, phải có đến 80% số doanh nghiệp sản xuất bằng công nghệ lạc hậu nên khó đảm bảo chất lượng.

Mặc dù, việc tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh doanh phân bón và chống phân bón giả, phân bón kém chất lượng, phân bón nhái nhãn mác đã được Nhà nước quan tâm và có nhiều chỉ đạo quyết liệt. Song báo cáo của TW Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho biết, hơn 10 năm qua thị trường phân bón vẫn chưa được cải thiện, tình hình sản xuất trá hình tinh vi hơn đã gây thiệt hại lớn cho nông dân và cả nền kinh tế, mỗi năm làm thiệt hại 02 tỷ USD.

Chánh Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Văn Việt cho biết, số vụ bắt giữ vi phạm kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng mỗi năm một cao, song việc xử lý chưa thật nghiêm minh, khởi tố hình sự quá thấp (chỉ 0,3%) nên không đủ sức răn đe.

“Có những đợt kiểm tra chất lượng phân bón trên thị trường, phát hiện có đến gần 50% số mẫu phân bón không đạt chỉ tiêu chất lượng như đăng ký và công bố trên bao bì”, ông Việt cho biết (Ngân Anh, 2015).

Cũng theo ông Nguyễn Văn Cẩn, Chánh văn phòng thường trực Ban chỉ đạo 398 Quốc gia “Các cuộc kiểm tra, thanh tra tăng lên song số vụ xử phạt vẫn ít. Nếu nói văn bản quy phạm pháp luật chưa đủ chế tài răn đe thì chưa phải bởi ngay trong các quy định về vi phạm chất lượng, nhãn mác, bao bì đều có thể quy ra trị giá sản phẩm và có thể căn cứ vào đó để xử phạt. Vấn đề là chúng ta chưa kiên quyết, lực lượng chưa thực sự vào cuộc, các địa phương chưa vào cuộc” (Lê Sơn, 2015).

Sản xuất, buôn bán phân bón giả cần xử lý hình sự

Trước thực trạng này, tại Cuộc họp về các giải pháp chống hàng giả, kém chất lượng đối với các mặt hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thuốc y, thức ăn chăn nuôi và các chất độc hại dùng trong chế biến thực phẩm, nông nghiệp, chiều ngày 02/12/2015, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban chỉ đạo 389 quốc gia cho rằng, tình hình phân bón giả và kém chất lượng… diễn biến phức tạp có nguyên nhân do một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm chỉ đạo, chưa dựa vào dân để phát hiện, lên án các hành vi vi phạm… Thậm chí, vì lợi ích cục bộ, một số cá nhân, tổ chức đã tiếp tay, bao che vi phạm, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục.

Phó Thủ tướng yêu cầu phải ngăn chặn và kiểm soát hiệu quả, kịp thời; xử lý hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đóng cửa cơ sở sản xuất, kinh doanh nếu vi phạm nghiêm trọng; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, địa phương nếu để xảy ra tình trạng này. Các ngành, địa phương cần tổ chức các đợt cao điểm kiểm tra, đánh trúng, đánh mạnh vào các đối tượng sản xuất, buôn bán mặt hàng này. Các vụ việc nổi cộm, cần xử lý nghiêm, tuyên truyền công khai để răn đe, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này.

“Nếu doanh nghiệp, cơ sở nào không có giấy phép, có giấy phép nhưng không đủ điều kiện phải sớm đóng cửa. Phải lập lại trật tự trong sản xuất, kinh doanh phân bón”  Phó Thủ tướng nhấn mạnh./.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ngân Anh (2015). Phân bón giả làm khổ nông dân, truy cập từ http://www.nhandan.com.vn/kinhte/nhan-dinh/item/27864002-phan-bon-gia-lam-kho-nong-dan.html
  2. Lê Sơn (2015). Dẹp phân bón giả, hàng kém chất lượng – đòi hỏi cấp bách của nhân dân, truy cập từ http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-cua-lanh-dao-Dang-Nha-nuoc/Dep-phan-bon-gia-hang-kem-chat-luong-doi-hoi-cap-bach-cua-nhan-dan/242873.vgp

Lê Thủy

 

VBF cuối kỳ: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để hội nhập quốc tế

– Với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để hội nhập quốc tế”, sáng nay tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Liên minh Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam và Ngân hàng Thế giới tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên (VBF) 2015.

Thành công nhờ quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh

Đánh giá chung về thực trạng của nền kinh tế, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhận định: “Năm 2015, mặc dù có những diễn biến phức tạp trên thế giới, nhưng Việt Nam đã đạt được những mục tiêu cơ bản đặt ra, kinh tế vĩ mô ổn định tốt, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, hệ thống tài chính duy trì ổn định; xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 3 bậc; tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm đạt 6%, dự kiến, tăng trưởng cả năm đạt 6,2-6,5%”.

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh phát biểu tại diễn đàn

Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành hoạt động thường niên và là kênh đối thoại hiệu quả giữa Chính phủ và cộng đồng DN. 10 nhóm vấn đề chính được tập trung thảo luận tại diễn đàn lần này bao gồm: thương mại, đầu tư, cơ sở hạ tầng, quản trị minh bạch, ngân hàng, thị trường vốn, nông nghiệp, giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực, ô tô, xe máy và khoáng sản.

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện quyết liệt các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh đồng bộ; các bộ, ngành của Việt Nam đã nỗ lực thực hiện các giải pháp đột phá, trong đó, đẩymạnh tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp (DN) nhà nước.

Việt Nam đang chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế bằng các hiệp định tự do thương mại đã ký kết với Hàn Quốc và Liên minh kinh tế Á – Âu, sắp tới sẽ ký kết với Liên minh châu Âu (EU) cũng như đang nỗ lực hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP với 11 quốc gia khác vào cuối năm nay. Theo Phó Thủ tướng, các hiệp định tự do thương mại chính là cơ hội để các DN, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đồng thời tạo động lực để Việt Nam cải cách thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Phó Thủ tướng cũng ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các hiệp hội, các nhà đầu tư, DN trong nước, ngoài nước trong việc đưa ra các kiến nghị thiết thực, thẳng thắn, mang tính chất xây dựng, những ý kiến, kiến nghị trong diễn đàn qua các kỳ có nhiều tác động tích cực đến Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện các thể chế kinh tế cũng như đề ra các giải pháp hiệu quả.

Đánh giá sự tích cực trong nền kinh tế Việt Nam, bà Virginia B.Foote, đồng Chủ tịch, Diễn đàn DN Việt Nam cho biết, kể từ Diễn đàn giữa kỳ được tổ chức vào tháng 6/2015, đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong các vấn đề quan trọng đối với DN ở Việt Nam – đặc biệt là kết quả đàm phán của Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10/2015.

“Chúng tôi kỳ vọng việc đàm phán các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam – EU sẽ đạt được kết quả trong tuần này tại Brussels. Chúng tôi cũng rất hài lòng với các cam kết trong Nghị quyết số 19 năm 2015, và cũng đã chứng kiến rất nhiều các văn bản pháp luật quan trọng được ban hành và có hiệu lực trong năm nay” – Bà Virginia B.Foote nói.

Cũng theo bà Virginia B.Foote, Việt Nam đã đi được khoảng 70-80% quãng đường để hướng tới các tiêu chuẩn kế toán toàn cầu và 20% cuối cùng sẽ là chìa khóa thành công cho các công ty hoạt động tại Việt Nam. Do đó, vị đồng Chủ tịch Diễn đàn VBF bày tỏ sự hoan nghênh các bước tiên quan trọng mà Chính phủ đã đạt được để đưa hệ thống kế toán của Việt Nam đến gần hơn chuẩn mực quốc tế.

Tiếp tục xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết, diễn đàn lần này diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi Việt Nam đang hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam tiến hành cải cách mạnh mẽ, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cải cách hành chính trên nhiều lĩnh vực còn chậm. Môi trường kinh doanh còn nhiều yếu kém, năng lực cạnh tranh của DN còn hạn chế.

Toàn cảnh diễn đàn

Đại diện cộng đồng DN, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), ông Vũ Tiến Lộc cũng nhận định, nhìn chung nỗ lực cải cách thể chế của Chính phủ và các cấp ngành đã đạt những kết quả tích cực song chưa đáp ứng được kỳ vọng của DN.

Qua khảo sát gần đây của VCCI cho thấy, về cải cách thủ tục hành chính thuế và hải quan, tín hiệu đáng lo ngại là DN tư nhân càng lớn thì chi phí tuân thủ thủ tục hành chính càng cao; DN quy mô càng lớn và kinh doanh càng thành công thì bị thanh tra, kiểm tra càng nhiều.

Đây là một lực cản đáng kể làm cho các DN không lớn lên được và quy mô bình quân của DN Việt Nam đang nhỏ dần đi theo các số liệu thống kê công bố gần đây. Đó là điều cần phải được quan tâm xem xét và có biện pháp khắc phục.

Ông Lộc bày tỏ, song hành với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cần phải là một trọng tâm cải thiện môi trường kinh doanh sắp tới. Bước sang năm 2016, với những nhiệm vụ trọng tâm chuẩn bị tích cực cho việc thực thi các hiệp định thương mại tự do. Cơ hội mở ra đồng nghĩa với gánh nặng của hội nhập cũng đè lên vai cả các cơ quan Chính phủ và cộng đồng DN.

Ngoài ra, để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho các DN, bà Virginia B.Foote cho rằng cần thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng và giảm thiểu gánh nặng hành chính thông qua việc giảm lượng tiền mặt, giấy tờ và giao dịch thanh toán trực tiếp giữa các DN và giữa DN với Chính phủ./.

Trang Trần

 

Bội chi ngân sách giảm nhẹ so với tháng trước

– Số liệu của Tổng cục Thống kê mới công bố cho thấy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11, thâm hụt ngân sách là 154,9 nghìn tỷ đồng, giảm so với con số 157,9 nghìn tỷ đồng của cùng kỳ tháng trước.

Cụ thể, tổng thu ngân sách Nhà nước tính đến thời điểm 15/11/2015 ước đạt 807 nghìn tỷ đồng, bằng 88,6% dự toán năm. Trong đó: thu nội địa đạt 598,4 nghìn tỷ đồng, bằng 93,7%; thu từ dầu thô 58,4 nghìn tỷ đồng, bằng 62,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 145,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,3%.

Đáng chú ý trong thu nội địa là có một số khoản thu đã vượt dự toán năm: Thu thuế bảo vệ môi trường đạt 21,1 nghìn tỷ đồng, bằng 163,1% dự toán năm; thu tiền sử dụng đất 49,2 nghìn tỷ đồng, bằng 126,1%; lệ phí trước bạ 18,8 nghìn tỷ đồng, bằng 121,9%.

Một số khoản thu dù chưa đạt dự toán năm nhưng được đánh giá là tiến triển khá, có thể hoàn thành chỉ tiêu trong năm nay, như: thuế thu nhập cá nhân đạt 49,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,7% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước ước tính đạt 110,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8%.

Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 118 nghìn tỷ đồng, bằng 82,9% dự toán năm; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 185,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84%.

Về chi ngân sách, tổng chi đến thời điểm 15/11/2015 ước tính đạt 961,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,9% dự toán năm. Trong đó chi đầu tư phát triển là 143,9 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 139,5 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính ước tính đạt 676,7 nghìn tỷ đồng, bằng 88,2%; chi trả nợ và viện trợ 132,9 nghìn tỷ đồng, bằng 88,6%.

Như vậy, ngân sách đến thời điểm 15/11 thâm hụt 154,9 nghìn tỷ đồng. So với cùng kỳ tháng trước là 157,9 nghìn tỷ đồng thì thâm hụt đã giảm nhẹ.

Trước đó, tại phiên họp sáng ngày 11//11, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 với 392/435 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Theo đó, tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước sẽ là 1.014.500 tỷ đồng. Nếu tính cả 4.700 tỷ đồng thu chuyển nguồn ngân sách địa phương từ năm 2015 sang năm 2016 thì tổng số thu ngân sách nhà nước là 1.019.200 tỷ đồng.

Trong khi đó, tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước được thông qua là 1.273.200 tỷ đồng. Mức bội chi ngân sách nhà nước là 254.000 tỷ đồng, tương đương 4,95% GDP./.

Anh Đức

 

Tái cơ cấu đầu tư công: Nhà nước cần “dũng cảm” thay đổi vai trò của mình

– Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã nhận định như vậy tại Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh ngày 24/11/2015, do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tổ chức.

Vẫn dậm chân tại chỗ

Cũng tại Diễn đàn, TS. Vũ Đình Ánh cho rằng, hiệu quả đầu tư của Việt Nam thấp. Quy mô đầu tư công liên tục tăng cao ở cả 3 bộ phận cấu thành đầu tư công. So với GDP (giá thực tế), đầu tư công bắt đầu tăng vọt từ năm 1996 lên đến đỉnh cao trên dưới 20% GDP giai đoạn 1999-2006 rồi giảm xuống dưới 18% GDP từ năm 2007. Đặc biệt, trùng với 2 năm 2008 và 2011 có lạm phát cao gần 20%,  tỷ trọng đầu tư công đột ngột giảm xuống mức thấp tương đương năm 1995 là dưới 14% GDP theo giá thực tế. Do khó khăn về kinh tế và ngân sách nhà nước nên quy mô đầu tư công năm 2013 rơi xuống mức thấp kỷ lục dưới 11% GDP trước khi phục hồi lên mức 12,36% GDP năm 2014.

Trong suốt giai đoạn 1995-2012, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong tổng vốn đầu tư công liên tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 40%. Đặc biệt, những năm 2005-2009 và 2011-2012, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tới trên 50%, thậm chí trên 60% tổng vốn đầu tư công chứng tỏ nỗ lực rất lớn trong tăng đầu tư công nói chung và đầu tư từ ngân sách nhà nước nói riêng.

Điều đáng lưu ý là đầu tư công còn trông cậy vào vốn vay tới trên dưới 30% giai đoạn 1998-2003 và đột ngột lên đến kỷ lục 36,6% năm 2010 và tới 42,5% năm 2014 trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng giảm liên tục suốt thời kỳ 1995-2005 trước khi đột ngột tăng vọt lên trên 30% vào 2006-2007 rồi lại giảm xuống mức dưới 20% kể từ năm 2010, thậm chí xuống gần 10% năm 2012 và 2014.

Đồng tình với nhận định của TS. Ánh, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, đầu tư công kém hiệu quả vừa dẫn đến các bất ổn vĩ mô, vừa làm giảm năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế trong ngắn và dài hạn.

Ở góc độ đánh giá đầu tư công lãng phí và dàn trải, theo TS. Huỳnh Thế Du, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay ở Việt Nam hầu như địa phương hay đơn vị nào cũng muốn có được những công trình quy mô được hỗ trợ từ ngân sách trung ương mà không quan tâm đến hiệu quả và sự hữu dụng của chúng. Đặc biệt gần đây nổi lên kế hoạch xây dựng các trung tâm hành chính tập trung nghìn tỷ. Đơn cử như Sơn La – một địa phương có số thu ngân sách hơn 3.000 tỷ đồng nhưng lại có kế hoạch xây cụm tượng đài và quảng trường lên đến 1.400 tỷ đồng…

Nhận định về nguyên nhân trực tiếp khiến cho tái cơ cấu đầu tư công thu được kết quả hạn chế, TS. Vũ Đình Ánh cho rằng tái cơ cấu đầu tư công không gắn với thay đổi vai trò  của Nhà nước trong nền kinh tế. Sau 5 năm mà đổi mới thể chế hầu như vẫn “dậm chân tại chỗ” và ước mong “Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển vẫn chỉ là mong ước…”.

Chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan lại cho rằng như thế vẫn chưa đủ và vẫn chưa phải là nguyên nhân gốc rễ. Bởi “tái cơ cấu đầu tư công và thay đổi vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế diễn ra chậm chạp có nguyên nhân rất cốt lõi từ tư duy và lợi ích của chính những người trong cuộc”, bà Lan cho biết thêm.

Toàn cảnh Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh

Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, Nhà nước cần dũng cảm thay đổi vai trò của mình, tập trung thực hiện vai trò kiến tạo sự phát triển, nhường lại cho thị trường và xã hội vai trò đầu tư thương mại và sẵn sàng để xã hội chung tay thực hiện một phần các dự án phục vụ mục đích công cộng, như hầu hết các nước trên thế giới đã và đang làm. “Chỉ trên cơ sở đó mới có thể thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, nếu không tái cơ cấu đầu tư công sẽ không có phương hướng và đích để đi đến”, chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh thêm.Nhà nước cần “dũng cảm” thay đổi vai trò của mình

Đồng quan điểm với bà Lan, TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban Chính sách kinh tế Vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, tái cơ cấu đầu tư công phải gắn với đổi mới thể chế kinh tế, cần phân định vai trò của Nhà nước và thị trường. Bên cạnh đó, quy trình phân bổ đầu tư công phải dựa trên cơ chế cạnh tranh, các tỉnh cần trình lên dự án đầu tư công cạnh tranh nhau và cần có Hội đồng đánh giá tính cạnh tranh với nhau về hiệu quả, tính lan tỏa. Xây dựng cơ chế cạnh tranh công khai nguồn vốn đầu tư công sẽ góp phần hình thành cơ chế đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội sau khi dự án đã đi vào khai thác sử dụng so với hiệu quả dự kiến trong hồ sơ dự án và so sánh giữa các địa phương, các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công.

Khẳng định xu hướng đầu tư công theo hướng kinh tế xanh, TS. Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Chính sách Dịch vụ công, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, đầu tư công xanh là một phần quan trọng trong tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển kinh tế xanh đang ngày càng là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới mặc dù chưa có các bước đi cụ thể. “Để vượt qua khủng hoảng, nhiều nước đã lựa chọn con đường này với quyết tâm cao và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ trong dòng chảy toàn cầu ấy. Mô hình phát triển kinh tế xanh là bước phát triển tiếp theo của mô hình hướng tới phát triển bền vững đã được khẳng định trên thế giới cũng như ở Việt Nam”, TS. Hải nhấn mạnh.

Phát biểu kết thúc Diễn đàn, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng đầu tư công, tái cơ cấu đầu tư công là một trong những vấn đề thách thức nhất của cải cách kinh tế của Việt Nam. Thách thức nằm ở chỗ không chỉ phân bổ lại nguồn lực, thay đổi cách thức phân bổ nguồn lực cho hiệu quả hơn mà còn hướng tới trào lưu mới là tăng trưởng xanh./.

Thanh Hà

 

Kỷ luật đầu tư công: “Chặt chẽ” trong quy định, “lỏng lẻo” trong thực hiện

– Trong vòng 3 năm Thủ tướng Chính phủ phải ban hành 5 chỉ thị về một vấn đề là xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản,nhưng tình trạng để xảy ra nợ đọng mới vẫn tiếp diễn, nợ cũ vẫn chưa giải quyết được dứt điểm.

Tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí vẫn đang rất phổ biến gây những hệ lụy nghiêm trọng

Sai phạm nhiều…

Tại Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh, ngày 24/11, TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô, CIEM đã thẳng thắn nhận định: “kỷ luật đầu tư công xét về mặt văn bản pháp luật là khá chặt chẽ tuy nhiên trong thực hiện lại rất lỏng lẻo”.

Trong vòng 3 năm Thủ tướng Chính phủ phải ban hành 5 chỉ thị về một vấn đề là xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản, nhưng tình trạng để xảy ra nợ đọng mới vẫn tiếp diễn, nợ cũ vẫn chưa giải quyết được dứt điểm.

Điều đáng buồn là hiện nay, chưa có thống kê chính thức về kết quả xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến hết năm 2013 nợ đọng xây dựng cơ bản giảm xuống còn 28.000 tỷ đồng so với mức 85.000 tỷ đồng năm 2011.

Tuy nhiên, kết quả này vẫn còn thấp hơn kế hoạch xử lý nợ, mà Chính phủ đã đặt ra theo tinh thần Chỉ thị 27/CT-TTg và Chỉ thị 14/CT-TTg. Thực trạng này cho thấy, các địa phương, bộ, ngành vẫn chưa quyết liệt thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng.

Vừa qua Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra trên diện rộng về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng từ nguồn vốn NSNN, trái phiếu chính phủ.

Tổng số 15 bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã lập 740 đoàn Thanh tra để tiến hành thanh tra 12.990 dự án, kiểm tra 194 dự án với tổng mức đầu tư 502.202,900 tỷ đồng.

Kết quả thanh tra cho thấy các sai phạm trong công tác đầu tư công vẫn còn xảy khá phổ biến.

Cụ thể, sai phạm phổ biến trong công tác quản lý vốn tại các địa phương chính là việc vi phạm các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh dự án.

Tổng cộng có tới 789 dự án bị các đoàn thanh tra ghi nhận sai phạm về trình tự thủ tục với tổng số tiến là 280 tỷ đồng; sai phạm về lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư tại 272 dự án với số tiền vi phạm là 248 tỷ đồng; sai phạm về nợ đọng xây dựng cơ bản tại 1.527 dự án, với tổng số tiền 1.869 tỷ đồng.

Điều đáng lưu ý là có tới 2.324 dự án vi phạm các lỗi: thanh toán vượt khối lượng thực tế thi công, thanh toán sai so với dự toán thực tế được duyệt, ứng vốn, nhưng không thực hiện hợp đồng với số tiền là 791,6 tỷ đồng.

Tại các địa phương, các đoàn thanh tra đã kiến nghị xử lý về kinh tế tổng số tiền là 3.189,5 tỷ đồng, trong đó thu hồi về NSNN 123,6 tỷ đồng, giảm trừ giá trị thanh quyết toán 128,6 tỷ đồng và xử lý khác 2.937 tỷ đồng.

Với những sai phạm này, đã có 240 tập thể, 197 cá nhân bị kiến nghị có hình thức xử lý kỷ luật và chỉ có 1 vụ việc bị kiến nghị chuyển sang cơ quan điều tra.

“Vi phạm luật ngân sách tràn lan, phớt lờ các chỉ thị của Thủ tướng trong đầu tư công là biểu hiện của năng lực thực thi chính sách yếu kém của bộ máy”, ông Tú Anh thẳng thắn.

Tình trạng xin – cho vẫn phổ biến

Cũng theo ông Tú Anh, việc phân bổ vốn đầu tư công vẫn đang thực hiện theo các quyết định chính trị hơn là dựa vào hiệu quả của dự án mang lại. Cho đến nay quá trình tái cơ cấu đầu tư công chỉ mới tập trung vào đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Nhà nước về đảm bảo không gây nợ đọng, không đầu tư khi chưa có nguồn vốn, mà chưa đưa ra được những cơ chế phân bổ nguồn lực dựa vào cạnh tranh.

Đầu tư công hiện nay đang thiếu cơ chế để đảm bảo số tiền đầu tư công hạn hẹp được sử dụng vào những dự án cần kíp nhất, với chi phí ít nhất và mang lại hiệu quả cao nhất.

Luật Đấu thầu sửa đổi năm 2014 là một nỗ lực lớn của Nhà nước nhằm buộc các doanh nghiệp tham gia các dự án đầu tư công phải thông qua đấu thầu cạnh tranh. “Tuy nhiên, chúng ta chưa có cơ chế cạnh tranh trong việc phân bổ vốn đầu tư về cho các cơ quan làm chủ đầu tư”, thay mặt nhóm nghiên cứu, ông Tú Anh cho biết.

Đối với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thì cho đến nay vẫn chưa có luật quy hoạch. Do đó tình trạng phá vỡ quy hoạch và sửa đổi quy hoạch xảy ra thường xuyên.

Điều này có nghĩa là căn cứ để xin chủ trương đầu tư theo quy hoạch không mang tính cứng, mà có thể linh hoạt theo ý của người xin chủ trương đầu tư.

  1. Đặng Đức Đạm – nguyên Phó trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ – cho rằng chúng ta chỉ mới thấy triệu chứng của con bệnh đầu tư công và điều trị bằng thuốc giảm sốt với kháng sinh, chưa xác định được nguyên nhân con bệnh, chưa chữa được bằng thuốc đặc hiệu nên nhiều con bệnh có triệu chứng nhờn thuốc.

Theo ông Đạm, Luật Đầu tư công là luật về thủ tục, không phải về nội dung nên không phải là phương thuốc hữu hiệu chữa bệnh đầu tư dàn trải, lãng phí.

Đồng tình với nhận định rằng, kẽ hở lớn nhất trong đầu tư công chính là việc vẫn tiếp tục duy trì cơ quan chủ quản của ông Tú Anh, TS. Đặng Đức Đạm cho rằng, nếu tiếp tục cơ chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của các cơ quan chủ quản, thì nguy cơ trục lợi từ các dự án đầu tư công là rất lớn. Chi phí thực hiện dự án sẽ bị đẩy lên rất cao, hiệu quả của đầu tư công vì thế sẽ thấp.

Về cơ chế phân bổ ngân sách và nguồn lực hiện tại, TS. Huỳnh Thế Du (Chương trình giảng dạy Fulbrigh) cho hay, ưu tiên của những nơi được hưởng “bầu sữa ngân sách” là tìm cách được phân bổ càng nhiều ngân sách càng tốt. Lúc này vai trò của các bản quy hoạch tổng thể, hay kế hoạch chủ yếu phcuj vụ cho mục tiêu này chứ không phải ngược lại.

“Các địa phương thương đưa các con số về nhu cầu nguồn lực (chủ yếu là vốn đầu tư) lên rất cao so với khả năng thực tế với mục tiêu là tạo áp lực lên Trung ương để có thêm “miếng bánh ngân sách” nhiều hơn”, vị chuyên gia này thẳng thắn.

 Cần những giải pháp căn cơ

Nhận định rằng, các giải pháp hiện có đang mới chỉ tập trung vào việc “siết chặt” kỷ luật đầu tư công, chứ chưa tập trung vào các giải pháp căn cơ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí, ông Tú Anh cho rằng, trong giai đoạn 2016-2020, cần thực hiện phân bổ đầu tư công theo khuôn khổ đầu tư trung hạn.

Đặc biệt, cần đổi mới tổ chức bộ máy giám sát và thẩm định đầu tư theo hươgs tổ chức các hội đồng chuyên môn tư vấn cho cơ quan giám sát và thẩm định.

“Do đầu tư công sử dụng tiền đóng thuế của nhân dân, nên nhân dân phải có quyền được biết những đồng tiền đó được sử dụng như thế nào?”, ông Tú Anh nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, ông đề xuất yêu cầu phải bắt buộc phải kiểm toán và kết quả kiểm toán phải được công bố công khai trên mạng.

  1. Đặng Đức Đạm thì cho rằng, cần giải quyết căn bản tình trạng “cơ quan chủ quản”. Theo đó, cần tách bạch quyền chi phối tài sản (như đất đai), tiền vốn (như đầu tư công) và quyền ban hành các quyết định hành chính.

“Chừng nào vẫn còn để thủ trưởng cơ quan hành chính “một tay cầm triện, một tay cầm tiền”, thì các giải pháp khác chỉ là ngọn”, vị chuyên gia này nhấn mạnh.

Ông  đề xuất, cần thành lập các công ty quản lý đất đai, công ty quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, công ty quản lý đầu tư công và giao cho các công ty này đảm nhiệm những công việc quản lý tài sản, tiền bạc của công quan hành chính.

Chỉ rõ ràng vấn đề cốt lõi của sự lãng phí trong đầu tư công hiện nay nằm ở khía cạnh kinh tế chị trị chứ không phải các vấn đề kinh tế, hay kỹ thuật thuần túy, TS. Huỳnh Thế Du đề xuất, thiết kế cơ chế cạnh tranh giữa các tổ chức ở khu vực công, các bộ, ngành, hay chính quyền các địa phương và áp lực từ những đối tượng có lợi ích dài hạn từ các khoản đầu tư công (chủ yếu là người dân).

Thứ nữa, theo vị chuyên gia này, việc phân bổ ngân sách nên được thiết kế sao cho mỗi đầu mối nhận ngân sách có thể biết được nguồn, cũng như nhu cầu chi tiêu trong dài hạn, giảm thiểu các khoản cần phải quyết định phân chia.

Đặc biệt, “việc phân bổ ngân sách nên được thực hiện bởi Quốc hội thay vì Chính phủ như hiện nay. Một Quốc hội mạnh với quyền phân chia ngân sách là hết sức quan trọng vì tại Quốc hội có đại diện đa dạng hơn cho nhiều nhóm lợi ích thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nên sự tương tác sẽ nhiều chiều hơn. Điều này sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực hợp lý hơn”, TS. Huỳnh Thế Du nhấn mạnh./.

Phương Anh

 

An toàn lao động khu vực phi chính thức: Đã đến lúc cần hành động!

– Trên thực tế, những người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được sự bảo về xứng đáng, làm việc không hợp đồng, không tham gia bảo hiểm xã hội và phần lớn không được trang bị kỹ năng về bảo hộ, an toàn lao động, nguy cơ xảy ra tai nạn là rất lớn.

Chưa được bảo vệ xứng đáng

Kết quả điều tra Lao động và Việc làm 2009 đã khẳng định một thực tế là số lượng việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam đã tăng lên trong giai đoạn 2007-2009 (khoảng 500.000 việc làm mới, tương ứng với tăng 4,9%).

Ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, khu vực kinh tế phi chính thức vẫn dẫn đầu trong việc cung cấp việc làm, chiếm 32% tổng số việc làm ở Hà Nội và 34% tổng số việc làm tại TP. Hồ Chí Minh.

Mặc dù có đóng góp không nhỏ đến phát triển kinh tế quốc dân, nhưng trên thực tế, những người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được sự bảo về xứng đáng, làm việc không hợp đồng, không tham gia bảo hiểm xã hội và phần lớn không được trang bị kỹ năng về bảo hộ, an toàn lao động, nguy cơ xảy ra tai nạn là rất lớn.

Một số điểm bất cập trong chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội liên quan thì với lao động phi chính thức do làm việc không có hợp đồng lao động, nên họ chỉ tham gia loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện và chỉ được hưởng hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Mặc dù, các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động rất thiết thực đối với lao động phi chính thức, do điều kiện làm việc phần lớn không đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, mức độ gặp rủi ro trong công việc cao hơn, nhưng các chế độ này lại không có trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Điều này tạo nên sự bất bình đẳng giữa những người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội, không khuyến khích được lao động di cư phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Đặc biệt về vấn đề tai nạn lao động đối với nhóm đối tượng lao động phi chính thức ngày càng nghiêm trọng. Có thể kể đến một số vụ tai nạn xảy ra những năm gần đây, như: Ngày 18/05/2013, 3 thợ cơ khí đang sửa chữa thang máy trên tầng 18, tòa nhà CT10, thuộc khu đô thị Đại Thanh (Thanh Trì), bất ngờ thang máy rơi khiến cả 3 tử vong tại chỗ; ngày 07/11/2015, tại công trình xây dựng Tòa nhà Văn phòng phẩm Hồng Hà (Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm) khi một nhóm lao động đang làm việc bên ngoài thì bị một tảng vật liệu xây dựng từ trên tầng cao tòa nhà rơi trúng, khiến 3 người bị thương nặng; Vụ cháy ngày 19/11/2015 tại khu nhà số 9 Trần Thánh Tông (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) làm 6 lao động tự do thiệt mạng… Đa phần nguyên nhân đều do lao động làm việc trong điều kiện không an toàn, không bảo hộ, thiếu kỹ năng xử lý khi tai nạn xảy ra. Đáng buồn là, bởi hầu hết các lao động này không được ký kết hợp đồng lao động, nên khi tai nạn xảy ra, người chủ thuê thường lảng tránh, không chịu trách nhiệm, hoặc bồi thường không thỏa đáng. Những câu nói đau xót thường dùng cho những đối tượng lao động khu vực phi chính thức khi xảy ra tai nạn là: “không chết là may rồi, còn đòi ai bồi thường?”, hay “chết rồi thì bồi thường thế nào?”…

Phần lớn lao động phi chính thức ở Việt Nam làm việc trong môi trường rủi ro cao, không được bảo vệ

Đã có quy định – cần thực hiện ngay và hiệu quả

Theo quy định trong Luật An toàn Vệ sinh Lao động thì từ đầu tháng 07/2016, những người học nghề, thực tập nghề, thử việc để làm việc cho chủ sử dụng lao động, người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, gọi chung là lao động phi chính thức cũng sẽ được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và thiết bị bảo hộ để đảm bảo an toàn.

Nhà nước sẽ khuyến khích, hỗ trợ một phần kinh phí người lao động không thuộc khu vực có quan hệ lao động được tham gia vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp để được bù đắp khi không may bị tai nạn lao động.

Việc mở rộng đối tượng áp dụng đối với cả khu vực không có quan hệ lao động là cần thiết để bảo đảm tính khả thi cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, nhằm khuyến khích người lao động ở khu vực này áp dụng các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động, đặc biệt là người lao động làm việc trong các lĩnh vực có nguy cơ cao, xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc những lĩnh vực có ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn của cộng đồng.

Tuy nhiên, để Luật được áp dụng một cách hiệu quả trong thực tế cần có cơ chế thưởng – phạt nghiêm minh, giám sát hiệu quả đối với từng ngành nghề, đơn vị thuê lao động phi chính thức trong việc đảm bảo an toàn lao động.

Muốn vậy, việc nâng cao chất lượng và số lượng các thông tin thống kê về khu vực phi chính thức là yêu cầu vô cùng cấp bách, nên được thể chế hóa; điều tra khu vực phi chính thức cần được đưa vào chương trình điều tra thống kê quốc gia, nhằm đảm bảo nắm bắt hợp lý và toàn diện thông tin về khu vực này, từ đó cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách.

Có thể thấy, mặc dù thực tế đã chứng minh tầm quan trọng của khu vực phi chính thức ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhưng khu vực này vẫn bị bỏ quên trong các chính sách công. Vì vậy, khi Luật An toàn Vệ sinh Lao động đã mở rộng quy định đối với lao động phi chính thức, chính là sự công nhận tồn tại của khu vực này. Đó là tiền đề quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước dành nhiều sự quan tâm hơn đối với lao động khu vực này./.

Loan Trần