Tháng Mười Hai, 2015

now browsing by month

 

Những mảnh ghép còn thiếu của thị trường bán lẻ Việt Nam

Một khi thị trường bán lẻ Việt Nam bổ sung thêm các mảnh ghép đang còn thiếu thì các nhà bán lẻ nước ngoài ngay lập tức sẽ nhìn ra và thâm nhập thị trường ngay mà không cần phải làm gì nhiều để thu hút.

Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield Châu Á – TBD
Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield châu Á – Thái Bình Dương

Ông Theodore Knipfing, Giám Đốc Bộ phận Bán lẻ Cushman & Wakefield châu Á – Thái Bình Dương đã chia sẻ về thị trường bán lẻ Việt Nam trong việc thu hút các thương hiệu nước ngoài gia nhập thị trường.

Trước ngưỡng cửa TPP, rất nhiều người hào hứng và trông đợi Hiệp định này sẽ làm thay đổi và phát triển thị trường bán lẻ. Liệu Việt Nam có bị biến động mạnh hơn?

Tôi đồng ý là Hiệp định này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho thị trường, tuy nhiên chắc chắn không phải doanh số bán lẻ đột nhiên tăng đột biến hay sự gia nhập rầm rộ của các nhà bán lẻ nước ngoài chỉ sau một đêm.

Chính những thành phần tham gia vào thị trường bán lẻ hiện nay sẽ giúp các nhà bán lẻ nước ngoài quyết định gia nhập thị trường hay không? Họ là những nhà làm chính sách, các nhà bán lẻ trong nước, các nhà phát triển bất động sản bán lẻ, người dân… Họ không chỉ kích thích kinh tế từ hoạt động mua sắm đơn thuần mà cung cấp những tiện ích nhằm làm thay đổi thói quen người dân khi mua sắm (từ chợ truyền thống chuyển sang siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại…), thay đổi thói quen sinh hoạt (ăn uống tại nhà hàng, vui chơi cuối tuần..), cung cấp sản phẩm chất lượng tốt với giá cả vừa phải, nâng lương nhằm tăng khả năng chi trả, cải thiện đường sá đô thị, tiện ích hạ tầng….

Một khi thị trường bán lẻ Việt Nam bổ sung thêm các mảnh ghép đang còn thiếu để trở thành một thị trường trưởng thành hơn, thì các nhà bán lẻ nước ngoài ngay lập tức sẽ nhìn ra được và gia nhập thị trường ngay mà chúng ta không cần phải làm gì nhiều để thu hút cả.

Tôi nghĩ thông điệp của TPP mang đến chính là “cơ hội và thách thức”, rất nhiều thứ sẽ thay đổi, không chỉ đơn thuần các rào cản thương mại, hàng rào thuế quan…mà còn là vấn đề thói quen sinh hoạt và mua sắm của người dân sẽ tác động rất lớn đến thị trường bán lẻ, kể cả việc cải thiện sức khỏe nền kinh tế.

Theo ông thì ngành hàng nào của thị trường bán lẻ đang nóng và đang thu hút nhà đầu tư nhất?

Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt. Để phát triển bền vững, các bạn nên tập trung vào thị trường 90 triệu dân Việt Nam và tìm cách tái định vị vai trò của các bạn đối với cuộc sống của họ, thay đổi thói quen sinh hoạt và mua sắm của họ.

Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt
Thị trường hàng hóa cao cấp chỉ chiếm 5% phân khúc thị trường bán lẻ và có đối tượng khách hàng riêng biệt

Đặc biệt, trả lời được câu hỏi trung tâm thương mại/cửa hàng tiện ích/siêu thị của các bạn đã thu hút được người dân đến mức độ nào?. Chiếm bao nhiêu % thời gian trong cuộc sống của họ, có quan trọng đối với cuộc sống của họ không?. Đây là những câu hỏi có tính then chốt đến chiến lược kinh doanh và phát triển của họ.

Một khía cạnh quan trọng nữa cần nói đến chính là sức mua. Việt Nam là một trong những quốc gia có sức mua tăng trưởng nhất tại châu Á và vẫn đang tiếp tục tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, cũng cần phải nói một chút xung quanh vấn đề này, ví dụ như việc đi du lịch, tỷ lệ người dân đi du lịch nước ngoài tại Việt Nam chiếm khoảng 5% dân số nhưng nếu những người đi du lịch này không biết, không thấy và không tìm hiểu về các thương hiệu nước ngoài khi đi du lịch thì rất ít khả năng họ sẽ mua những thương hiệu này khi họ có mặt tại Việt Nam.

Như vậy, để thị trường trưởng thành thì phải có sự thay đổi một cách đồng bộ.

Vậy sau khi gia nhập TPP, hàng rào thuế quan được gỡ bỏ, giá cả hàng hóa sẽ rẻ hơn và người dân sẽ tăng khả năng tiếp cận được với hàng hóa nằm trong khả năng chi trả của họ, điều này sẽ cải thiện được thói quen mua sắm của họ không?

Theo tôi được biết thì tại đa số các nước châu Á, mức thuế cao nhất được áp dụng cho hàng hóa xa xỉ, nằm trong khoảng 20 – 30%, và các mặt hàng này không bị ảnh hưởng gì bởi TPP vì vẫn bị đánh thuế như thường.

Chỉ có các loại hàng hóa tầm trung, phổ thông sẽ được hưởng lợi nhiều nhất vì hàng rào thuế quan được gỡ bỏ. Lợi ích lớn nhất mà TPP mang lại chính là sự lưu thông hàng hóa, tư do thương mại.

Quay trở lại với việc mở rộng quy mô và mạng lưới kinh doanh của các nhà bán lẻ, họ sẽ tìm kiếm các nước nằm cùng trong một khu vực có vị trí liền kề nhau như Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Hàng hóa tập trung tại một nước và vận chuyển qua các nước lân cận sẽ nhanh và rẻ hơn nhiều so với việc vận chuyến qua các nước khác khu vực, hơn nữa vận chuyển hàng hóa giữa các nước liền kề này thì thuế suất rất thấp, thập chí không có thuế. Họ sẽ ngày càng tập trung nguồn lực và đầu tư vào các thị trường tiềm năng nằm trong cùng một khu vực địa lý.

Vậy thách thức đối với các thương hiệu này là gì?

Một trong những khó khăn lớn nhất cho những nhà bán lẻ chính là nhìn mọi vấn đề ở quy mô toàn cầu nhưng phải phân bố nguồn lực một cách phù hợp nhất để mang lại lợi nhuận cho thương hiệu và cho cổ đông.

Một quốc gia có thể có sự tăng trưởng lợi nhuận cao, thị trường bán lẻ rất tiềm năng nhưng nếu đó là một thị trường nhỏ hoặc nhỏ hơn các quốc gia như Indonesia, Ấn Độ hay Trung Quốc thì thứ tự ưu tiên sẽ phải được xem lại.

Nếu các quốc gia nằm gần nhau tạo thành một thị trường chung có các quy định dành cho nhà bán lẻ tương đồng, thuế suất ít hơn (Liên minh châu Âu là một ví dụ) thì các nhà bán lẻ sẽ xem xét việc tiến vào thị trường chung này. Bởi lúc này nó là một thể thống nhất, nhân lực của họ cũng tinh gọn hơn rất nhiều chứ không phải chia ra từng nhóm phụ trách từng nước với các quy trình được lặp lại ở từng quốc gia.

H&M, ZARA là đối thủ của nhau nhưng họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại vì điều này sẽ mang nhiều khách hàng đến mua sắm hơn.
H&M, ZARA là đối thủ của nhau nhưng họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại vì điều này sẽ mang nhiều khách hàng đến mua sắm hơn

Giống như những thương hiệu H&M hay ZARA, họ thường đi chung với nhau trong một trung tâm thương mại bởi vì điều này sẽ mang lại nhiều khách hàng đến mua sắm hơn. Cũng như vậy, các nước thành viên của TPP nên sát cánh hỗ trợ nhau để mang lại lợi ích rộng rãi hơn cho người dân các nước thành viên. Họ có thể là đối thủ cạnh tranh của nhau trong một vài mặt nhưng nếu cùng nhìn về đại cục thì sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các bên, và đó cũng là mục đích của các Hiệp định thương mại nói chung.

Còn rào cản nào nữa không, thưa ông?

Đó là làm sao tạo được lòng tin từ người tiêu dùng, những người bỏ ra rất nhiều tiền để sở hữu hàng cao cấp. Tâm lý chung của họ là thường không mấy tin tưởng vào hàng cao cấp họ mua trong nước hoặc tại các nước đang phát triển.

Singapore là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch Việt Nam nhất. Nếu giá cả hàng hiệu tại TP.HCM cao hơn thì người dân nơi đây sẵn sàng bay qua Singapore để mua sắm hàng hiệu
Singapore là một trong những địa điểm thu hút nhiều khách du lịch Việt Nam nhất. Nếu giá cả hàng hiệu tại TP.HCM cao hơn thì người dân nơi đây sẵn sàng bay qua Singapore để mua sắm

Một điều nữa không thể không nhắc đến chính là số lượng người Việt Nam đi du lịch nước ngoài, 3 địa điểm mà người Việt Nam mong muốn đến nhất là Paris, New York và Singapore nhưng thực tế thì Singapore, Thái Lan, Campuchia và Myanmar lại là những nơi mà người Việt đi du lịch nhiều nhất.

Ngoài ra, hình thức thanh toán bằng thẻ. Với một quốc gia mà hình thức thanh toán bằng thẻ mới chỉ chiếm 5% so với các hình thức thanh toán khác như Việt Nam thì thị trường cần thêm thời gian để đạt đến sự phát triển cần có.

Vậy ông sẽ nói gì với các thương hiệu cao cấp nếu họ muốn vào thị trường Việt Nam?

Tôi sẽ khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam theo hình thức trực tiếp vì mức thu nhập người dân đang được tăng lên tương ứng với khả năng chi tiêu. Việc họ phải làm là quảng bá thương hiệu đến khách hàng, tính toán để giá cả hợp lý nhất có thể vì khách hàng hiện nay cực kỳ nhạy bén và thông minh, họ có internet để kiểm tra giá cả.

Họ có thể biện hộ là do chi phí trung gian, lãi suất… khiến giá cả đội lên và dồn hết chi phí này cho khách hàng. Việc này sẽ khiến khách hàng có ấn tượng xấu về thương hiệu và họ nghĩ nhà sản xuất tham lam.

Anh Hoa

TÌNH HÌNH CHUNG VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP THÁNG 11 VÀ 11 THÁNG ĐẦU NĂM 2015

1.  Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 11 năm 2015    

Trong tháng 11/2015, số doanh nghiệp được thành lập mới là 9.311 doanh nghiệp với số vốn đăng ký là 52.583 tỷ đồng, tăng 1,3% về số doanh nghiệp và giảm 19,3% về số vốn đăng ký so với tháng 10 năm 2015.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong tháng 11 đạt 5,6 tỷ đồng, giảm 21,1% so với tháng trước.

Số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 11 là 159,45 nghìn lao động, giảm 0,15% so với tháng trước.

Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động trong tháng 11 của cả nước là 827 doanh nghiệp, tăng 21,8% so với tháng 10 năm 2015.

Số doanh nghiệp gặp khó khăn trong tháng 11 là 4.768 doanh nghiệp, giảm 65,5% so với tháng trước, trong đó: 1.536 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có đăng ký và 3.232 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ đóng mã số doanh nghiệp hoặc không đăng ký.

Số doanh nghiệp trước tạm ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt động không đăng ký nay quay trở lại hoạt động trong tháng 11 trên cả nước là 2.448 doanh nghiệp, giảm 26,9% so với tháng 10 năm 2015.

2. Tình hình doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đầu năm 2015

– Về tình hình chung:       

Trong 11 tháng đầu năm 2015, cả nước có 86.853 doanh nghiệp được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 538.671 tỷ đồng, tăng 28,12% về số doanh nghiệp và tăng 37,66% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước (So sánh 2014/2013: doanh nghiệp giảm 4,5%; vốn tăng 8,9%).

Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 11 tháng đầu năm 2015 là 1.280.855 tỷ đồng, bao gồm: tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 538.671 tỷ đồng và tổng số vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn là 742.184 tỷ đồng.

Tỷ trọng vốn đăng ký bình quân trên một doanh nghiệp trong 11 tháng đầu năm 2015 đạt 6,2 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Số lao động dự kiến được tạo việc làm của các doanh nghiệp thành lập mới trong 11 tháng đầu năm 2015 là 1.318,4 nghìn lao động, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm trước.

– Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo vùng lãnh thổ:

Theo số liệu thống kê tại Biểu đồ 1 về các vùng của cả nước trong 11 tháng đầu năm 2015 cho thấy cũng như các năm 2013 và 2014 thì vùng Đông Nam Bộ vẫn là vùng có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập nhiều nhất, vùng Tây Nguyên là vùng có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập thấp nhất.

Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập theo vùng trong 11 tháng đầu năm 2015 so với cùng kỳ năm 2014, cho thấy duy nhất khu vực Tây Nguyên là có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm 8,6%; Ở chiều ngược lại, các khu vực khác đều có tỷ lệ doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng, bao gồm các khu vực là Đồng bằng Sông Hồng tăng 33,4%; tiếp đến là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc tăng 30,7%; Đông Nam Bộ tăng 29,7%; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung tăng 25,1% và Đồng bằng Sông Cửu Long tăng 20,7%.

Nếu so sánh tỷ lệ biến động tăng, giảm doanh nghiệp đăng ký thành lập tại các vùng theo các năm 2015/2014 và 2014/2013 thì tại các vùng trong cả nước cho thấy 2 xu hướng biến động trái ngược nhau qua các năm.

 

 

– Về tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới phân theo ngành, lĩnh vực hoạt động:

Trong 11 tháng đầu năm 2015, tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập tăng ở tất cả các ngành, lĩnh vực so với cùng kỳ năm 2014. Một số ngành có tỷ lệ tăng cao trên 50%, gồm có: Kinh doanh bất động sản tăng 77,8%; Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 68,2%; Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 63,9%.

Biểu đồ 3: Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới theo ngành, lĩnh vực hoạt động

 

 

          Lê Văn Kiên

(Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh)

Những nội dung mới của Luật Đầu tư năm 2014

Ông Quách Ngọc Tuấn
Phó Vụ Trưởng – Vụ Pháp chế, Bộ KH&ĐT

Luật Đầu tư năm 2014 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014 tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2015, thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005 với nhiều thay đổi quan trọng, đặc biệt là các quy định về cấm đầu tư, đầu tư có điều kiện và cải cách thủ tục hành chính về đầu tư.

1. Quy định về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh; ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

Thay đổi quan trọng nhất của Luật Đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc Hiến định về quyền tự do đầu tư kinh doanh của công dân trong các ngành, nghề mà Luật không cấm thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư và đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Việc tập hợp, rà soát và quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư 2014 theo phương pháp loại trừ (chọn bỏ) đã góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc áp dụng pháp luật, từ việc nhà đầu tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật cho phép sang nguyên tắc được tự do đầu tư kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà Luật này không cấm hoặc quy định phải có điều kiện.

Cụ thể, trên cơ sở rà soát, loại bỏ các ngành, nghề cấm đầu tư, kinh doanh trùng lặp theo các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và Luật Thương mại, Luật quy định 06 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh bao gồm: (i) kinh doanh các chất ma túy theo quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Luật; (ii) kinh doanh các loại hóa chất, khoáng vật độc hại quy định tại Phụ lục 2 ban hành kèm theo Luật; (iii) kinh doanh mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã theo quy định tại Phụ lục 1 của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loại động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm Nhóm I có nguồn gốc từ tự nhiên theo quy định tại Phụ lục 3 ban hành kèm theo Luật (iv) kinh doanh mại dâm; (v) mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; (vi) các hoạt động liên quan đến sinh sản vô tính trên người.

Về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện: Trên cơ sở rà soát 386 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật hiện hành, Luật đã quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo nguyên tắc:

+ Bãi bỏ các ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh không hợp lý, không rõ ràng, tạo ra gánh nặng chi phí tuân thủ đối với nhà đầu tư;

+ Sửa đổi một số điều kiện đầu tư kinh doanh theo hướng giảm thiểu hình thức cấp phép, xác nhận hoặc chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để chuyển sang áp dụng chủ yếu hình thức ban hành quy định về tiêu chuẩn, điều kiện để nhà đầu tư tự đăng ký thực hiện và cơ quan quản lý tiến hành hậu kiểm;

+ Cập nhật, chuẩn xác tên gọi và hệ thống một số ngành, nghề nhằm phản ánh chính xác, minh bạch các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, tránh trùng lặp và tạo thuận lợi cho việc thực hiện các quy định của pháp luật về vấn đề này.

Trên cở sở nguyên tắc nêu trên, Danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại Phụ lục 4 của Luật gồm có 267 ngành, nghề.

Luật cũng sửa đổi thẩm quyền quy định về ngành, nghề và điều kiện đầu tư kinh doanh. Theo đó, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chỉ được quy định tại Luật Đầu tư còn điều kiện cụ thể đối với từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Kể từ ngày Luật có hiệu lực thi hành (1/7/2015), ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác sẽ hết hiệu lực thi hành. Các điều kiện áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện ban hành kèm theo Luật Đầu tư 2014 đang được quy định tại các văn bản dưới nghị định tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 01/7/2016.

2. Củng cố, hoàn thiện cơ chế bảo đảm đầu tư phù hợp với quy định của Hiến pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Luật Đầu tư 2014 tiếp tục duy trì cơ chế và nguyên tắc bảo đảm đầu tư đã được quy định tại Luật Đầu tư 2005, đồng thời hoàn thiện các cơ chế và nguyên tắc này với các sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:

– Cập nhật các quy định về việc Nhà nước bảo đảm quyền sở hữu tài sản của nhà đầu tư và cam kết bồi thường thỏa đáng, công bằng trong trường hợp trưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư phù hợp với quy định của Hiến pháp.

– Hoàn thiện quy định về việc Nhà nước bảo đảm đối xử không phân biệt giữa các nhà đầu tư phù hợp với cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế.

– Hoàn thiện quy định về việc áp dụng nguyên tắc không hồi tố trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật thay đổi làm ảnh hưởng bất lợi đến ưu đãi đầu tư đã áp dụng đối với nhà đầu tư. Theo đó, Luật đã bỏ quy định về việc chỉ áp dụng nguyên tắc không hồi tố đối với ưu đãi đầu tư đã được quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư để bảo đảm bình đẳng trong việc áp dụng nguyên tắc không hồi tố giữa nhà đầu tư được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và nhà đầu tư không thuộc diện phải thực hiện thủ tục này.

3. Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc triển khai thực hiện dự án đầu tư

Luật Đầu tư 2014 đã cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, đơn giản và bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư với những nội dung sửa đổi, bổ sung quan trọng gồm:

Một là, Luật đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư trong nước (Điều 36).

Hai là, Luật đã đơn giản hoá hồ sơ, trình tự, thủ tục và rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài với thời hạn tối đa 15 ngày thay cho 45 ngày như trước đây (Điều 37).

Cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, Luật đã bổ sung, hoàn thiện một số quy định nhằm nâng cao hiệu quả triển khai thực hiện dự án đầu tư, như: bổ sung quy định về bảo đảm nghĩa vụ thực hiện dự án của nhà đầu tư dưới hình thức ký quỹ; bổ sung quy định về giám định chất lượng máy móc, thiết bị, công nghệ nhập khẩu để thực hiện dự án đầu tư; hoàn thiện các quy định về chuyển nhượng dự án đầu tư, giãn tiến độ đầu tư, tạm ngừng hoạt động đầu tư, thu hồi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư… theo hướng xác định cụ thể điều kiện, thủ tục thực hiện các hoạt động này, cũng như trách nhiệm của nhà đầu tư và thẩm quyền giải quyết của cơ quan quản lý ở địa phương.

Ba là, cải cách quy trình thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng bãi bỏ yêu cầu cấp giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tách bạch hoạt động đầu tư theo dự án với hoạt động đăng ký kinh doanh. Theo hướng này, sau khi thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh như nhà đầu tư trong nước.

Bên cạnh đó, Luật cũng đã làm rõ địa vị pháp lý của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài để làm cơ sở áp dụng thống nhất điều kiện và thủ tục đầu tư đối với các doanh nghiệp này theo hướng chỉ các doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 51% hoặc doanh nghiệp có các doanh nghiệp nêu trên nắm giữ trên 51% mới phải áp dụng điều kiện và thủ tục như nhà đầu tư nước ngoài. Những trường hợp còn lại, doanh nghiệp áp dụng điều kiện và thủ tục đầu tư như nhà đầu tư trong nước.

Bốn là, Luật đã cải cách quy trình góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng cho phép nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp thực hiện thủ tục thay đổi thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp mà không phải thực hiện thủ tục đầu tư, trừ trường hợp nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài hoặc trường hợp nhà đầu tư nước ngoài sở hữu trên 51% vốn điều lệ của doanh nghiệp sau khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp.

Để cải cách quy trình này, Luật cũng đã phân định rõ phạm vi điều chỉnh của Luật Đầu tư và Luật Chứng khoán trong hoạt động mua cổ phần, quy định chi tiết các hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài và làm rõ điều kiện phải tuân thủ của nhà đầu tư nước ngoài.

4. Hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thu hút đầu tư

Luật đã hoàn thiện các quy định của Luật Đầu tư hiện hành về ngành, nghề ưu đãi đầu tư cũng như các nguyên tắc, điều kiện áp dụng ưu đãi nhằm bảo đảm thu hút đầu tư có chọn lọc, chất lượng, tập trung vào các ngành sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, dự án sản xuất có quy mô lớn, dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng nhiều lao động, dự án sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, dự án thực hiện trong các lĩnh vực xã hội hóa đầu tư (y tế, giáo dục, dạy nghề, văn hóa…).

Để khắc phục việc áp dụng ưu đãi đầu tư tràn lan đối với tất cả các dự án thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư, Luật bổ sung quy định không áp dụng ưu đãi đầu tư theo tiêu chí địa bàn đối với các dự án khai thác khoáng sản; dự án sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

5. Hoàn thiện chế độ phân cấp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư

Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư quan trọng, có quy mô lớn và tác động liên ngành, liên vùng, Luật đã bổ sung quy định về thẩm quyền, thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng:

– Quy định dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận đầu tư của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở kế thừa, luật hóa và hoàn thiện quy định tương ứng của Nghị quyết số 49/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội và quy định của Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

– Bổ sung quy định về thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.

Điểm mới trong nội dung này là chuẩn hóa và đơn giản hóa thủ tục hành  chính đối với một số dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đó, cơ quan quản lý đầu tư thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với việc xem xét thẩm tra nhu cầu sử dụng đất, điều kiện giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Việc áp dụng đồng thời các thủ tục nêu trên sẽ giúp cắt giảm đáng kể thời gian thực hiện thủ tục hành chính do nhà đầu tư không phải tiến hành lần lượt từng thủ tục liên quan đến việc sử dụng đất như quy định hiện hành.

Ngoài ra, Luật đã chuyển thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư từ UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sang sở kế hoạch và đầu tư; bổ sung quy định về trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong quản lý hoạt động đầu tư, đồng thời hoàn thiện các quy định về chế độ báo cáo đầu tư, giám sát và đánh giá hoạt động đầu tư.

6. Cải cách thủ tục đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài

Các quy định về vấn đề này được thiết kế trên cơ sở sửa đổi, bổ sung một số nội dung tương ứng của Luật Đầu tư trước đây; đồng thời, luật hóa và hoàn thiện một số quy định tại Nghị định 78/2006/NĐ-CP, ngày 9/8/2006 của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài. Theo đó, Luật khẳng định nguyên tắc nhà đầu tư được thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm khai thác, phát triển, mở rộng thị trường; tăng khả năng xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ, thu ngoại tệ; tiếp cận công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực quản lý và bổ sung nguồn lực phát triển kinh tế đất nước; hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật của nước tiếp nhận đầu tư và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; nhà đầu tư tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu tư.

Luật cũng quy định trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc huy động các nguồn vốn (bao gồm cả ngoại tệ) để thực hiện hoạt động đầu tư ở nước ngoài; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư, cũng như cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và các cơ quan liên quan trong việc quyết định đầu tư, quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài; đồng thời, bổ sung một số quy định về thủ tục triển khai hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm tạo cơ chế giám sát và quản lý chặt chẽ nguồn vốn chuyển ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư.

Ngoài ra, Luật đã bổ sung hình thức đầu tư ra nước ngoài thông qua mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác và đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư và giao cho Chính phủ hướng dẫn để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư theo hình thức này./.

[pirate_forms]

Cần xử lý nghiêm các đối tượng sản xuất, buôn bán mặt hàng phân bón giả

– Theo TW Hiệp hội Phân bón Việt Nam, hơn 10 năm qua, tình hình sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng vẫn tiềm tàng với mức độ ngày càng phức tạp, tinh vi hơn, gây thiệt hại 02 tỷ USD cho nông sản Việt Nam mỗi năm.

Loạn thị trường phân bón

Phân bón là vật tư quan trọng, chiếm 50%-70% chi phí sản xuất và quyết định đến 40% năng suất cây trồng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện thị trường phân bón Việt Nam đang có khoảng hơn 7.000 chủng loại, như: phân hóa học, phân hữu cơ, phân vi lượng… Trong đó, các cơ quan chức năng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang quản lý gần 5.300 loại phân bón đã có trong danh mục chính thức (phân hữu cơ). Còn Bộ Công Thương đã cấp giấy hợp chuẩn, hợp quy cho gần 1.000 loại (phân bón vô cơ). Ngoài ra, tại thị trường vẫn đang lưu hành những loại phân bón truyền thống nằm ngoài danh mục ước tính cũng gần 1.000 thương hiệu.

Đánh giá về vấn đề quản lý phân bón của nước ta, trong phiên thảo luận về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016 kỳ họp thứ X Quốc hội khóa XIII diễn ra sáng 02/11/2015, TS. Nguyễn Sỹ Cương, đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Thuận, cho rằng, Việt Nam có quá nhiều loại phân bón, trong khi các quốc gia có tỷ trọng nông nghiệp khá lớn chỉ sử dụng 20-30 loại, ngay như Thái Lan cũng chỉ có 100 loại phân bón. Do đó, rất khó cho quản lý, sản xuất, kinh doanh.

Hơn nữa, trong “ma trận” sản phẩm phân bón đang lưu hành trên thị trường hiện nay việc hướng dẫn nông dân lựa chọn được các sản phảm chất lượng cũng là một việc hết sức khó khăn. Từ đây, cũng dẫn đến việc sản xuất phân bón giả, phân bón nhái và giả mạo thương hiệu tràn lan. Phổ biến là những loại phân kém chất lượng tới mức chỉ còn 10%-30% hàm lượng theo đăng ký và công bố. Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho rằng, phải có đến 80% số doanh nghiệp sản xuất bằng công nghệ lạc hậu nên khó đảm bảo chất lượng.

Mặc dù, việc tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh doanh phân bón và chống phân bón giả, phân bón kém chất lượng, phân bón nhái nhãn mác đã được Nhà nước quan tâm và có nhiều chỉ đạo quyết liệt. Song báo cáo của TW Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho biết, hơn 10 năm qua thị trường phân bón vẫn chưa được cải thiện, tình hình sản xuất trá hình tinh vi hơn đã gây thiệt hại lớn cho nông dân và cả nền kinh tế, mỗi năm làm thiệt hại 02 tỷ USD.

Chánh Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Văn Việt cho biết, số vụ bắt giữ vi phạm kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng mỗi năm một cao, song việc xử lý chưa thật nghiêm minh, khởi tố hình sự quá thấp (chỉ 0,3%) nên không đủ sức răn đe.

“Có những đợt kiểm tra chất lượng phân bón trên thị trường, phát hiện có đến gần 50% số mẫu phân bón không đạt chỉ tiêu chất lượng như đăng ký và công bố trên bao bì”, ông Việt cho biết (Ngân Anh, 2015).

Cũng theo ông Nguyễn Văn Cẩn, Chánh văn phòng thường trực Ban chỉ đạo 398 Quốc gia “Các cuộc kiểm tra, thanh tra tăng lên song số vụ xử phạt vẫn ít. Nếu nói văn bản quy phạm pháp luật chưa đủ chế tài răn đe thì chưa phải bởi ngay trong các quy định về vi phạm chất lượng, nhãn mác, bao bì đều có thể quy ra trị giá sản phẩm và có thể căn cứ vào đó để xử phạt. Vấn đề là chúng ta chưa kiên quyết, lực lượng chưa thực sự vào cuộc, các địa phương chưa vào cuộc” (Lê Sơn, 2015).

Sản xuất, buôn bán phân bón giả cần xử lý hình sự

Trước thực trạng này, tại Cuộc họp về các giải pháp chống hàng giả, kém chất lượng đối với các mặt hàng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thuốc y, thức ăn chăn nuôi và các chất độc hại dùng trong chế biến thực phẩm, nông nghiệp, chiều ngày 02/12/2015, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng Ban chỉ đạo 389 quốc gia cho rằng, tình hình phân bón giả và kém chất lượng… diễn biến phức tạp có nguyên nhân do một số bộ, ngành, địa phương chưa thực sự vào cuộc, chưa quan tâm chỉ đạo, chưa dựa vào dân để phát hiện, lên án các hành vi vi phạm… Thậm chí, vì lợi ích cục bộ, một số cá nhân, tổ chức đã tiếp tay, bao che vi phạm, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục.

Phó Thủ tướng yêu cầu phải ngăn chặn và kiểm soát hiệu quả, kịp thời; xử lý hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm, đóng cửa cơ sở sản xuất, kinh doanh nếu vi phạm nghiêm trọng; đề cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, địa phương nếu để xảy ra tình trạng này. Các ngành, địa phương cần tổ chức các đợt cao điểm kiểm tra, đánh trúng, đánh mạnh vào các đối tượng sản xuất, buôn bán mặt hàng này. Các vụ việc nổi cộm, cần xử lý nghiêm, tuyên truyền công khai để răn đe, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực này.

“Nếu doanh nghiệp, cơ sở nào không có giấy phép, có giấy phép nhưng không đủ điều kiện phải sớm đóng cửa. Phải lập lại trật tự trong sản xuất, kinh doanh phân bón”  Phó Thủ tướng nhấn mạnh./.

Tài liệu tham khảo:

  1. Ngân Anh (2015). Phân bón giả làm khổ nông dân, truy cập từ http://www.nhandan.com.vn/kinhte/nhan-dinh/item/27864002-phan-bon-gia-lam-kho-nong-dan.html
  2. Lê Sơn (2015). Dẹp phân bón giả, hàng kém chất lượng – đòi hỏi cấp bách của nhân dân, truy cập từ http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-cua-lanh-dao-Dang-Nha-nuoc/Dep-phan-bon-gia-hang-kem-chat-luong-doi-hoi-cap-bach-cua-nhan-dan/242873.vgp

Lê Thủy

 

VBF cuối kỳ: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để hội nhập quốc tế

– Với chủ đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để hội nhập quốc tế”, sáng nay tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Liên minh Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam và Ngân hàng Thế giới tổ chức Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam thường niên (VBF) 2015.

Thành công nhờ quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh

Đánh giá chung về thực trạng của nền kinh tế, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh nhận định: “Năm 2015, mặc dù có những diễn biến phức tạp trên thế giới, nhưng Việt Nam đã đạt được những mục tiêu cơ bản đặt ra, kinh tế vĩ mô ổn định tốt, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, hệ thống tài chính duy trì ổn định; xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 3 bậc; tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm đạt 6%, dự kiến, tăng trưởng cả năm đạt 6,2-6,5%”.

Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh phát biểu tại diễn đàn

Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành hoạt động thường niên và là kênh đối thoại hiệu quả giữa Chính phủ và cộng đồng DN. 10 nhóm vấn đề chính được tập trung thảo luận tại diễn đàn lần này bao gồm: thương mại, đầu tư, cơ sở hạ tầng, quản trị minh bạch, ngân hàng, thị trường vốn, nông nghiệp, giáo dục đào tạo, nguồn nhân lực, ô tô, xe máy và khoáng sản.

Chính phủ Việt Nam đã thực hiện quyết liệt các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh đồng bộ; các bộ, ngành của Việt Nam đã nỗ lực thực hiện các giải pháp đột phá, trong đó, đẩymạnh tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách đầu tư công, tái cơ cấu doanh nghiệp (DN) nhà nước.

Việt Nam đang chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế bằng các hiệp định tự do thương mại đã ký kết với Hàn Quốc và Liên minh kinh tế Á – Âu, sắp tới sẽ ký kết với Liên minh châu Âu (EU) cũng như đang nỗ lực hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng Kinh tế ASEAN và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP với 11 quốc gia khác vào cuối năm nay. Theo Phó Thủ tướng, các hiệp định tự do thương mại chính là cơ hội để các DN, nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đồng thời tạo động lực để Việt Nam cải cách thể chế, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Phó Thủ tướng cũng ghi nhận sự nỗ lực, cố gắng của các hiệp hội, các nhà đầu tư, DN trong nước, ngoài nước trong việc đưa ra các kiến nghị thiết thực, thẳng thắn, mang tính chất xây dựng, những ý kiến, kiến nghị trong diễn đàn qua các kỳ có nhiều tác động tích cực đến Chính phủ Việt Nam trong việc hoàn thiện các thể chế kinh tế cũng như đề ra các giải pháp hiệu quả.

Đánh giá sự tích cực trong nền kinh tế Việt Nam, bà Virginia B.Foote, đồng Chủ tịch, Diễn đàn DN Việt Nam cho biết, kể từ Diễn đàn giữa kỳ được tổ chức vào tháng 6/2015, đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong các vấn đề quan trọng đối với DN ở Việt Nam – đặc biệt là kết quả đàm phán của Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào tháng 10/2015.

“Chúng tôi kỳ vọng việc đàm phán các Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam – EU sẽ đạt được kết quả trong tuần này tại Brussels. Chúng tôi cũng rất hài lòng với các cam kết trong Nghị quyết số 19 năm 2015, và cũng đã chứng kiến rất nhiều các văn bản pháp luật quan trọng được ban hành và có hiệu lực trong năm nay” – Bà Virginia B.Foote nói.

Cũng theo bà Virginia B.Foote, Việt Nam đã đi được khoảng 70-80% quãng đường để hướng tới các tiêu chuẩn kế toán toàn cầu và 20% cuối cùng sẽ là chìa khóa thành công cho các công ty hoạt động tại Việt Nam. Do đó, vị đồng Chủ tịch Diễn đàn VBF bày tỏ sự hoan nghênh các bước tiên quan trọng mà Chính phủ đã đạt được để đưa hệ thống kế toán của Việt Nam đến gần hơn chuẩn mực quốc tế.

Tiếp tục xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho biết, diễn đàn lần này diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khi Việt Nam đang hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015. Đây cũng là giai đoạn Việt Nam tiến hành cải cách mạnh mẽ, tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cải cách hành chính trên nhiều lĩnh vực còn chậm. Môi trường kinh doanh còn nhiều yếu kém, năng lực cạnh tranh của DN còn hạn chế.

Toàn cảnh diễn đàn

Đại diện cộng đồng DN, Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI), ông Vũ Tiến Lộc cũng nhận định, nhìn chung nỗ lực cải cách thể chế của Chính phủ và các cấp ngành đã đạt những kết quả tích cực song chưa đáp ứng được kỳ vọng của DN.

Qua khảo sát gần đây của VCCI cho thấy, về cải cách thủ tục hành chính thuế và hải quan, tín hiệu đáng lo ngại là DN tư nhân càng lớn thì chi phí tuân thủ thủ tục hành chính càng cao; DN quy mô càng lớn và kinh doanh càng thành công thì bị thanh tra, kiểm tra càng nhiều.

Đây là một lực cản đáng kể làm cho các DN không lớn lên được và quy mô bình quân của DN Việt Nam đang nhỏ dần đi theo các số liệu thống kê công bố gần đây. Đó là điều cần phải được quan tâm xem xét và có biện pháp khắc phục.

Ông Lộc bày tỏ, song hành với cải cách hành chính, cải cách tư pháp cần phải là một trọng tâm cải thiện môi trường kinh doanh sắp tới. Bước sang năm 2016, với những nhiệm vụ trọng tâm chuẩn bị tích cực cho việc thực thi các hiệp định thương mại tự do. Cơ hội mở ra đồng nghĩa với gánh nặng của hội nhập cũng đè lên vai cả các cơ quan Chính phủ và cộng đồng DN.

Ngoài ra, để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho các DN, bà Virginia B.Foote cho rằng cần thực hiện các giải pháp phòng ngừa tham nhũng và giảm thiểu gánh nặng hành chính thông qua việc giảm lượng tiền mặt, giấy tờ và giao dịch thanh toán trực tiếp giữa các DN và giữa DN với Chính phủ./.

Trang Trần

 

Bội chi ngân sách giảm nhẹ so với tháng trước

– Số liệu của Tổng cục Thống kê mới công bố cho thấy, tính từ đầu năm đến ngày 15/11, thâm hụt ngân sách là 154,9 nghìn tỷ đồng, giảm so với con số 157,9 nghìn tỷ đồng của cùng kỳ tháng trước.

Cụ thể, tổng thu ngân sách Nhà nước tính đến thời điểm 15/11/2015 ước đạt 807 nghìn tỷ đồng, bằng 88,6% dự toán năm. Trong đó: thu nội địa đạt 598,4 nghìn tỷ đồng, bằng 93,7%; thu từ dầu thô 58,4 nghìn tỷ đồng, bằng 62,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 145,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,3%.

Đáng chú ý trong thu nội địa là có một số khoản thu đã vượt dự toán năm: Thu thuế bảo vệ môi trường đạt 21,1 nghìn tỷ đồng, bằng 163,1% dự toán năm; thu tiền sử dụng đất 49,2 nghìn tỷ đồng, bằng 126,1%; lệ phí trước bạ 18,8 nghìn tỷ đồng, bằng 121,9%.

Một số khoản thu dù chưa đạt dự toán năm nhưng được đánh giá là tiến triển khá, có thể hoàn thành chỉ tiêu trong năm nay, như: thuế thu nhập cá nhân đạt 49,6 nghìn tỷ đồng, bằng 96,7% dự toán năm; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước ước tính đạt 110,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,8%.

Riêng thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 118 nghìn tỷ đồng, bằng 82,9% dự toán năm; thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 185,6 nghìn tỷ đồng, bằng 84%.

Về chi ngân sách, tổng chi đến thời điểm 15/11/2015 ước tính đạt 961,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,9% dự toán năm. Trong đó chi đầu tư phát triển là 143,9 nghìn tỷ đồng, bằng 73,8% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 139,5 nghìn tỷ đồng, bằng 73,2%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính ước tính đạt 676,7 nghìn tỷ đồng, bằng 88,2%; chi trả nợ và viện trợ 132,9 nghìn tỷ đồng, bằng 88,6%.

Như vậy, ngân sách đến thời điểm 15/11 thâm hụt 154,9 nghìn tỷ đồng. So với cùng kỳ tháng trước là 157,9 nghìn tỷ đồng thì thâm hụt đã giảm nhẹ.

Trước đó, tại phiên họp sáng ngày 11//11, Quốc hội cũng đã thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 với 392/435 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành. Theo đó, tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước sẽ là 1.014.500 tỷ đồng. Nếu tính cả 4.700 tỷ đồng thu chuyển nguồn ngân sách địa phương từ năm 2015 sang năm 2016 thì tổng số thu ngân sách nhà nước là 1.019.200 tỷ đồng.

Trong khi đó, tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước được thông qua là 1.273.200 tỷ đồng. Mức bội chi ngân sách nhà nước là 254.000 tỷ đồng, tương đương 4,95% GDP./.

Anh Đức

 

Tái cơ cấu đầu tư công: Nhà nước cần “dũng cảm” thay đổi vai trò của mình

– Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã nhận định như vậy tại Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh ngày 24/11/2015, do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương tổ chức.

Vẫn dậm chân tại chỗ

Cũng tại Diễn đàn, TS. Vũ Đình Ánh cho rằng, hiệu quả đầu tư của Việt Nam thấp. Quy mô đầu tư công liên tục tăng cao ở cả 3 bộ phận cấu thành đầu tư công. So với GDP (giá thực tế), đầu tư công bắt đầu tăng vọt từ năm 1996 lên đến đỉnh cao trên dưới 20% GDP giai đoạn 1999-2006 rồi giảm xuống dưới 18% GDP từ năm 2007. Đặc biệt, trùng với 2 năm 2008 và 2011 có lạm phát cao gần 20%,  tỷ trọng đầu tư công đột ngột giảm xuống mức thấp tương đương năm 1995 là dưới 14% GDP theo giá thực tế. Do khó khăn về kinh tế và ngân sách nhà nước nên quy mô đầu tư công năm 2013 rơi xuống mức thấp kỷ lục dưới 11% GDP trước khi phục hồi lên mức 12,36% GDP năm 2014.

Trong suốt giai đoạn 1995-2012, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước trong tổng vốn đầu tư công liên tục chiếm tỷ trọng lớn nhất với trên 40%. Đặc biệt, những năm 2005-2009 và 2011-2012, tỷ trọng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm tới trên 50%, thậm chí trên 60% tổng vốn đầu tư công chứng tỏ nỗ lực rất lớn trong tăng đầu tư công nói chung và đầu tư từ ngân sách nhà nước nói riêng.

Điều đáng lưu ý là đầu tư công còn trông cậy vào vốn vay tới trên dưới 30% giai đoạn 1998-2003 và đột ngột lên đến kỷ lục 36,6% năm 2010 và tới 42,5% năm 2014 trong khi tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng giảm liên tục suốt thời kỳ 1995-2005 trước khi đột ngột tăng vọt lên trên 30% vào 2006-2007 rồi lại giảm xuống mức dưới 20% kể từ năm 2010, thậm chí xuống gần 10% năm 2012 và 2014.

Đồng tình với nhận định của TS. Ánh, TS. Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, đầu tư công kém hiệu quả vừa dẫn đến các bất ổn vĩ mô, vừa làm giảm năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh chung của nền kinh tế trong ngắn và dài hạn.

Ở góc độ đánh giá đầu tư công lãng phí và dàn trải, theo TS. Huỳnh Thế Du, Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay ở Việt Nam hầu như địa phương hay đơn vị nào cũng muốn có được những công trình quy mô được hỗ trợ từ ngân sách trung ương mà không quan tâm đến hiệu quả và sự hữu dụng của chúng. Đặc biệt gần đây nổi lên kế hoạch xây dựng các trung tâm hành chính tập trung nghìn tỷ. Đơn cử như Sơn La – một địa phương có số thu ngân sách hơn 3.000 tỷ đồng nhưng lại có kế hoạch xây cụm tượng đài và quảng trường lên đến 1.400 tỷ đồng…

Nhận định về nguyên nhân trực tiếp khiến cho tái cơ cấu đầu tư công thu được kết quả hạn chế, TS. Vũ Đình Ánh cho rằng tái cơ cấu đầu tư công không gắn với thay đổi vai trò  của Nhà nước trong nền kinh tế. Sau 5 năm mà đổi mới thể chế hầu như vẫn “dậm chân tại chỗ” và ước mong “Nhà nước phải làm tốt chức năng kiến tạo phát triển vẫn chỉ là mong ước…”.

Chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan lại cho rằng như thế vẫn chưa đủ và vẫn chưa phải là nguyên nhân gốc rễ. Bởi “tái cơ cấu đầu tư công và thay đổi vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế diễn ra chậm chạp có nguyên nhân rất cốt lõi từ tư duy và lợi ích của chính những người trong cuộc”, bà Lan cho biết thêm.

Toàn cảnh Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh

Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, Nhà nước cần dũng cảm thay đổi vai trò của mình, tập trung thực hiện vai trò kiến tạo sự phát triển, nhường lại cho thị trường và xã hội vai trò đầu tư thương mại và sẵn sàng để xã hội chung tay thực hiện một phần các dự án phục vụ mục đích công cộng, như hầu hết các nước trên thế giới đã và đang làm. “Chỉ trên cơ sở đó mới có thể thực hiện tái cơ cấu đầu tư công, nếu không tái cơ cấu đầu tư công sẽ không có phương hướng và đích để đi đến”, chuyên gia Phạm Chi Lan nhấn mạnh thêm.Nhà nước cần “dũng cảm” thay đổi vai trò của mình

Đồng quan điểm với bà Lan, TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban Chính sách kinh tế Vĩ mô, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, tái cơ cấu đầu tư công phải gắn với đổi mới thể chế kinh tế, cần phân định vai trò của Nhà nước và thị trường. Bên cạnh đó, quy trình phân bổ đầu tư công phải dựa trên cơ chế cạnh tranh, các tỉnh cần trình lên dự án đầu tư công cạnh tranh nhau và cần có Hội đồng đánh giá tính cạnh tranh với nhau về hiệu quả, tính lan tỏa. Xây dựng cơ chế cạnh tranh công khai nguồn vốn đầu tư công sẽ góp phần hình thành cơ chế đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội sau khi dự án đã đi vào khai thác sử dụng so với hiệu quả dự kiến trong hồ sơ dự án và so sánh giữa các địa phương, các đơn vị sử dụng vốn đầu tư công.

Khẳng định xu hướng đầu tư công theo hướng kinh tế xanh, TS. Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban Chính sách Dịch vụ công, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng, đầu tư công xanh là một phần quan trọng trong tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng phát triển kinh tế xanh đang ngày càng là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới mặc dù chưa có các bước đi cụ thể. “Để vượt qua khủng hoảng, nhiều nước đã lựa chọn con đường này với quyết tâm cao và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ trong dòng chảy toàn cầu ấy. Mô hình phát triển kinh tế xanh là bước phát triển tiếp theo của mô hình hướng tới phát triển bền vững đã được khẳng định trên thế giới cũng như ở Việt Nam”, TS. Hải nhấn mạnh.

Phát biểu kết thúc Diễn đàn, TS. Nguyễn Đình Cung cho rằng đầu tư công, tái cơ cấu đầu tư công là một trong những vấn đề thách thức nhất của cải cách kinh tế của Việt Nam. Thách thức nằm ở chỗ không chỉ phân bổ lại nguồn lực, thay đổi cách thức phân bổ nguồn lực cho hiệu quả hơn mà còn hướng tới trào lưu mới là tăng trưởng xanh./.

Thanh Hà

 

Kỷ luật đầu tư công: “Chặt chẽ” trong quy định, “lỏng lẻo” trong thực hiện

– Trong vòng 3 năm Thủ tướng Chính phủ phải ban hành 5 chỉ thị về một vấn đề là xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản,nhưng tình trạng để xảy ra nợ đọng mới vẫn tiếp diễn, nợ cũ vẫn chưa giải quyết được dứt điểm.

Tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí vẫn đang rất phổ biến gây những hệ lụy nghiêm trọng

Sai phạm nhiều…

Tại Diễn đàn Tái cơ cấu đầu tư công gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng kinh tế xanh, ngày 24/11, TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban Chính sách kinh tế vĩ mô, CIEM đã thẳng thắn nhận định: “kỷ luật đầu tư công xét về mặt văn bản pháp luật là khá chặt chẽ tuy nhiên trong thực hiện lại rất lỏng lẻo”.

Trong vòng 3 năm Thủ tướng Chính phủ phải ban hành 5 chỉ thị về một vấn đề là xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản, nhưng tình trạng để xảy ra nợ đọng mới vẫn tiếp diễn, nợ cũ vẫn chưa giải quyết được dứt điểm.

Điều đáng buồn là hiện nay, chưa có thống kê chính thức về kết quả xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản. Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến hết năm 2013 nợ đọng xây dựng cơ bản giảm xuống còn 28.000 tỷ đồng so với mức 85.000 tỷ đồng năm 2011.

Tuy nhiên, kết quả này vẫn còn thấp hơn kế hoạch xử lý nợ, mà Chính phủ đã đặt ra theo tinh thần Chỉ thị 27/CT-TTg và Chỉ thị 14/CT-TTg. Thực trạng này cho thấy, các địa phương, bộ, ngành vẫn chưa quyết liệt thực hiện các chỉ thị của Thủ tướng.

Vừa qua Thanh tra Chính phủ đã tiến hành thanh tra trên diện rộng về tăng cường quản lý đầu tư và xử lý nợ đọng từ nguồn vốn NSNN, trái phiếu chính phủ.

Tổng số 15 bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã lập 740 đoàn Thanh tra để tiến hành thanh tra 12.990 dự án, kiểm tra 194 dự án với tổng mức đầu tư 502.202,900 tỷ đồng.

Kết quả thanh tra cho thấy các sai phạm trong công tác đầu tư công vẫn còn xảy khá phổ biến.

Cụ thể, sai phạm phổ biến trong công tác quản lý vốn tại các địa phương chính là việc vi phạm các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, điều chỉnh dự án.

Tổng cộng có tới 789 dự án bị các đoàn thanh tra ghi nhận sai phạm về trình tự thủ tục với tổng số tiến là 280 tỷ đồng; sai phạm về lập, thẩm định, phê duyệt điều chỉnh tổng mức đầu tư tại 272 dự án với số tiền vi phạm là 248 tỷ đồng; sai phạm về nợ đọng xây dựng cơ bản tại 1.527 dự án, với tổng số tiền 1.869 tỷ đồng.

Điều đáng lưu ý là có tới 2.324 dự án vi phạm các lỗi: thanh toán vượt khối lượng thực tế thi công, thanh toán sai so với dự toán thực tế được duyệt, ứng vốn, nhưng không thực hiện hợp đồng với số tiền là 791,6 tỷ đồng.

Tại các địa phương, các đoàn thanh tra đã kiến nghị xử lý về kinh tế tổng số tiền là 3.189,5 tỷ đồng, trong đó thu hồi về NSNN 123,6 tỷ đồng, giảm trừ giá trị thanh quyết toán 128,6 tỷ đồng và xử lý khác 2.937 tỷ đồng.

Với những sai phạm này, đã có 240 tập thể, 197 cá nhân bị kiến nghị có hình thức xử lý kỷ luật và chỉ có 1 vụ việc bị kiến nghị chuyển sang cơ quan điều tra.

“Vi phạm luật ngân sách tràn lan, phớt lờ các chỉ thị của Thủ tướng trong đầu tư công là biểu hiện của năng lực thực thi chính sách yếu kém của bộ máy”, ông Tú Anh thẳng thắn.

Tình trạng xin – cho vẫn phổ biến

Cũng theo ông Tú Anh, việc phân bổ vốn đầu tư công vẫn đang thực hiện theo các quyết định chính trị hơn là dựa vào hiệu quả của dự án mang lại. Cho đến nay quá trình tái cơ cấu đầu tư công chỉ mới tập trung vào đảm bảo việc tuân thủ các quy định của Nhà nước về đảm bảo không gây nợ đọng, không đầu tư khi chưa có nguồn vốn, mà chưa đưa ra được những cơ chế phân bổ nguồn lực dựa vào cạnh tranh.

Đầu tư công hiện nay đang thiếu cơ chế để đảm bảo số tiền đầu tư công hạn hẹp được sử dụng vào những dự án cần kíp nhất, với chi phí ít nhất và mang lại hiệu quả cao nhất.

Luật Đấu thầu sửa đổi năm 2014 là một nỗ lực lớn của Nhà nước nhằm buộc các doanh nghiệp tham gia các dự án đầu tư công phải thông qua đấu thầu cạnh tranh. “Tuy nhiên, chúng ta chưa có cơ chế cạnh tranh trong việc phân bổ vốn đầu tư về cho các cơ quan làm chủ đầu tư”, thay mặt nhóm nghiên cứu, ông Tú Anh cho biết.

Đối với Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thì cho đến nay vẫn chưa có luật quy hoạch. Do đó tình trạng phá vỡ quy hoạch và sửa đổi quy hoạch xảy ra thường xuyên.

Điều này có nghĩa là căn cứ để xin chủ trương đầu tư theo quy hoạch không mang tính cứng, mà có thể linh hoạt theo ý của người xin chủ trương đầu tư.

  1. Đặng Đức Đạm – nguyên Phó trưởng Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ – cho rằng chúng ta chỉ mới thấy triệu chứng của con bệnh đầu tư công và điều trị bằng thuốc giảm sốt với kháng sinh, chưa xác định được nguyên nhân con bệnh, chưa chữa được bằng thuốc đặc hiệu nên nhiều con bệnh có triệu chứng nhờn thuốc.

Theo ông Đạm, Luật Đầu tư công là luật về thủ tục, không phải về nội dung nên không phải là phương thuốc hữu hiệu chữa bệnh đầu tư dàn trải, lãng phí.

Đồng tình với nhận định rằng, kẽ hở lớn nhất trong đầu tư công chính là việc vẫn tiếp tục duy trì cơ quan chủ quản của ông Tú Anh, TS. Đặng Đức Đạm cho rằng, nếu tiếp tục cơ chế “vừa đá bóng, vừa thổi còi” của các cơ quan chủ quản, thì nguy cơ trục lợi từ các dự án đầu tư công là rất lớn. Chi phí thực hiện dự án sẽ bị đẩy lên rất cao, hiệu quả của đầu tư công vì thế sẽ thấp.

Về cơ chế phân bổ ngân sách và nguồn lực hiện tại, TS. Huỳnh Thế Du (Chương trình giảng dạy Fulbrigh) cho hay, ưu tiên của những nơi được hưởng “bầu sữa ngân sách” là tìm cách được phân bổ càng nhiều ngân sách càng tốt. Lúc này vai trò của các bản quy hoạch tổng thể, hay kế hoạch chủ yếu phcuj vụ cho mục tiêu này chứ không phải ngược lại.

“Các địa phương thương đưa các con số về nhu cầu nguồn lực (chủ yếu là vốn đầu tư) lên rất cao so với khả năng thực tế với mục tiêu là tạo áp lực lên Trung ương để có thêm “miếng bánh ngân sách” nhiều hơn”, vị chuyên gia này thẳng thắn.

 Cần những giải pháp căn cơ

Nhận định rằng, các giải pháp hiện có đang mới chỉ tập trung vào việc “siết chặt” kỷ luật đầu tư công, chứ chưa tập trung vào các giải pháp căn cơ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí, ông Tú Anh cho rằng, trong giai đoạn 2016-2020, cần thực hiện phân bổ đầu tư công theo khuôn khổ đầu tư trung hạn.

Đặc biệt, cần đổi mới tổ chức bộ máy giám sát và thẩm định đầu tư theo hươgs tổ chức các hội đồng chuyên môn tư vấn cho cơ quan giám sát và thẩm định.

“Do đầu tư công sử dụng tiền đóng thuế của nhân dân, nên nhân dân phải có quyền được biết những đồng tiền đó được sử dụng như thế nào?”, ông Tú Anh nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, ông đề xuất yêu cầu phải bắt buộc phải kiểm toán và kết quả kiểm toán phải được công bố công khai trên mạng.

  1. Đặng Đức Đạm thì cho rằng, cần giải quyết căn bản tình trạng “cơ quan chủ quản”. Theo đó, cần tách bạch quyền chi phối tài sản (như đất đai), tiền vốn (như đầu tư công) và quyền ban hành các quyết định hành chính.

“Chừng nào vẫn còn để thủ trưởng cơ quan hành chính “một tay cầm triện, một tay cầm tiền”, thì các giải pháp khác chỉ là ngọn”, vị chuyên gia này nhấn mạnh.

Ông  đề xuất, cần thành lập các công ty quản lý đất đai, công ty quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, công ty quản lý đầu tư công và giao cho các công ty này đảm nhiệm những công việc quản lý tài sản, tiền bạc của công quan hành chính.

Chỉ rõ ràng vấn đề cốt lõi của sự lãng phí trong đầu tư công hiện nay nằm ở khía cạnh kinh tế chị trị chứ không phải các vấn đề kinh tế, hay kỹ thuật thuần túy, TS. Huỳnh Thế Du đề xuất, thiết kế cơ chế cạnh tranh giữa các tổ chức ở khu vực công, các bộ, ngành, hay chính quyền các địa phương và áp lực từ những đối tượng có lợi ích dài hạn từ các khoản đầu tư công (chủ yếu là người dân).

Thứ nữa, theo vị chuyên gia này, việc phân bổ ngân sách nên được thiết kế sao cho mỗi đầu mối nhận ngân sách có thể biết được nguồn, cũng như nhu cầu chi tiêu trong dài hạn, giảm thiểu các khoản cần phải quyết định phân chia.

Đặc biệt, “việc phân bổ ngân sách nên được thực hiện bởi Quốc hội thay vì Chính phủ như hiện nay. Một Quốc hội mạnh với quyền phân chia ngân sách là hết sức quan trọng vì tại Quốc hội có đại diện đa dạng hơn cho nhiều nhóm lợi ích thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, nên sự tương tác sẽ nhiều chiều hơn. Điều này sẽ làm cho việc phân bổ nguồn lực hợp lý hơn”, TS. Huỳnh Thế Du nhấn mạnh./.

Phương Anh

 

An toàn lao động khu vực phi chính thức: Đã đến lúc cần hành động!

– Trên thực tế, những người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được sự bảo về xứng đáng, làm việc không hợp đồng, không tham gia bảo hiểm xã hội và phần lớn không được trang bị kỹ năng về bảo hộ, an toàn lao động, nguy cơ xảy ra tai nạn là rất lớn.

Chưa được bảo vệ xứng đáng

Kết quả điều tra Lao động và Việc làm 2009 đã khẳng định một thực tế là số lượng việc làm trong khu vực kinh tế phi chính thức ở Việt Nam đã tăng lên trong giai đoạn 2007-2009 (khoảng 500.000 việc làm mới, tương ứng với tăng 4,9%).

Ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, khu vực kinh tế phi chính thức vẫn dẫn đầu trong việc cung cấp việc làm, chiếm 32% tổng số việc làm ở Hà Nội và 34% tổng số việc làm tại TP. Hồ Chí Minh.

Mặc dù có đóng góp không nhỏ đến phát triển kinh tế quốc dân, nhưng trên thực tế, những người lao động trong khu vực phi chính thức chưa được sự bảo về xứng đáng, làm việc không hợp đồng, không tham gia bảo hiểm xã hội và phần lớn không được trang bị kỹ năng về bảo hộ, an toàn lao động, nguy cơ xảy ra tai nạn là rất lớn.

Một số điểm bất cập trong chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội liên quan thì với lao động phi chính thức do làm việc không có hợp đồng lao động, nên họ chỉ tham gia loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện và chỉ được hưởng hai chế độ là hưu trí và tử tuất. Mặc dù, các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động rất thiết thực đối với lao động phi chính thức, do điều kiện làm việc phần lớn không đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, mức độ gặp rủi ro trong công việc cao hơn, nhưng các chế độ này lại không có trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Điều này tạo nên sự bất bình đẳng giữa những người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội, không khuyến khích được lao động di cư phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Đặc biệt về vấn đề tai nạn lao động đối với nhóm đối tượng lao động phi chính thức ngày càng nghiêm trọng. Có thể kể đến một số vụ tai nạn xảy ra những năm gần đây, như: Ngày 18/05/2013, 3 thợ cơ khí đang sửa chữa thang máy trên tầng 18, tòa nhà CT10, thuộc khu đô thị Đại Thanh (Thanh Trì), bất ngờ thang máy rơi khiến cả 3 tử vong tại chỗ; ngày 07/11/2015, tại công trình xây dựng Tòa nhà Văn phòng phẩm Hồng Hà (Phan Chu Trinh, Hoàn Kiếm) khi một nhóm lao động đang làm việc bên ngoài thì bị một tảng vật liệu xây dựng từ trên tầng cao tòa nhà rơi trúng, khiến 3 người bị thương nặng; Vụ cháy ngày 19/11/2015 tại khu nhà số 9 Trần Thánh Tông (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) làm 6 lao động tự do thiệt mạng… Đa phần nguyên nhân đều do lao động làm việc trong điều kiện không an toàn, không bảo hộ, thiếu kỹ năng xử lý khi tai nạn xảy ra. Đáng buồn là, bởi hầu hết các lao động này không được ký kết hợp đồng lao động, nên khi tai nạn xảy ra, người chủ thuê thường lảng tránh, không chịu trách nhiệm, hoặc bồi thường không thỏa đáng. Những câu nói đau xót thường dùng cho những đối tượng lao động khu vực phi chính thức khi xảy ra tai nạn là: “không chết là may rồi, còn đòi ai bồi thường?”, hay “chết rồi thì bồi thường thế nào?”…

Phần lớn lao động phi chính thức ở Việt Nam làm việc trong môi trường rủi ro cao, không được bảo vệ

Đã có quy định – cần thực hiện ngay và hiệu quả

Theo quy định trong Luật An toàn Vệ sinh Lao động thì từ đầu tháng 07/2016, những người học nghề, thực tập nghề, thử việc để làm việc cho chủ sử dụng lao động, người lao động làm việc không theo hợp đồng lao động, gọi chung là lao động phi chính thức cũng sẽ được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng và thiết bị bảo hộ để đảm bảo an toàn.

Nhà nước sẽ khuyến khích, hỗ trợ một phần kinh phí người lao động không thuộc khu vực có quan hệ lao động được tham gia vào Quỹ Bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp để được bù đắp khi không may bị tai nạn lao động.

Việc mở rộng đối tượng áp dụng đối với cả khu vực không có quan hệ lao động là cần thiết để bảo đảm tính khả thi cần xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể, nhằm khuyến khích người lao động ở khu vực này áp dụng các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh lao động, đặc biệt là người lao động làm việc trong các lĩnh vực có nguy cơ cao, xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc những lĩnh vực có ảnh hưởng tới sức khỏe, an toàn của cộng đồng.

Tuy nhiên, để Luật được áp dụng một cách hiệu quả trong thực tế cần có cơ chế thưởng – phạt nghiêm minh, giám sát hiệu quả đối với từng ngành nghề, đơn vị thuê lao động phi chính thức trong việc đảm bảo an toàn lao động.

Muốn vậy, việc nâng cao chất lượng và số lượng các thông tin thống kê về khu vực phi chính thức là yêu cầu vô cùng cấp bách, nên được thể chế hóa; điều tra khu vực phi chính thức cần được đưa vào chương trình điều tra thống kê quốc gia, nhằm đảm bảo nắm bắt hợp lý và toàn diện thông tin về khu vực này, từ đó cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách.

Có thể thấy, mặc dù thực tế đã chứng minh tầm quan trọng của khu vực phi chính thức ngày càng gia tăng đối với nền kinh tế Việt Nam, nhưng khu vực này vẫn bị bỏ quên trong các chính sách công. Vì vậy, khi Luật An toàn Vệ sinh Lao động đã mở rộng quy định đối với lao động phi chính thức, chính là sự công nhận tồn tại của khu vực này. Đó là tiền đề quan trọng để các cơ quan quản lý nhà nước dành nhiều sự quan tâm hơn đối với lao động khu vực này./.

Loan Trần

Năm 2016, mức thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ ở mức 1,6% GDP

– HSBC dự báo, mức thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ ở mức 1,6% GDP trong năm 2016. Điều này đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước có chính sách thắt chặt kịp thời.

Đó là nội dung chính của báo cáo kinh tế vĩ mô vừa được ngân hàng HSBC công bố gần đây.

Thâm hụt thương mại hàng hóa đã thấy rõ

Thâm hụt thương mại hàng hoá đã xấu hơn trong năm 2015, ở mức 4,6 tỷ USD trong tháng 11. Một mức thâm hụt nới rộng theo mùa trong tháng 12

có khả năng sẽ đẩy con số cả năm vượt mức 6 tỷ USD, tăng từ mức 0,6 tỷ USD trong năm 2014.

Tình trạng này xuất phát từ việc hoạt động nhập khẩu gia tăng chứ không phải là do xuất khẩu suy giảm. Gần đây, nhu cầu trong nước đã hồi phục mạnh phản ánh tình hình nền kinh tế vay nợ trở lại. Tăng trưởng tín dụng vẫn theo đúng kế hoạch đạt mức tăng 17% trong năm nay.

Cụ thể, sau khi hồi phục trở lại trong tháng 10, Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam lại một lần nữa rơi xuống dưới ngưỡng 50 điểm trong tháng 11, cho thấy hoạt động sản xuất có sự sụt giảm nhẹ. Đà tăng khó có khả năng diễn ra trong thời gian gần.

Đơn đặt hàng xuất khẩu mới mặc dù vẫn cải thiện, nhưng vẫn nằm ở mức thấp của bốn tháng qua.

Trong khi đó, tỷ suất lợi nhuận đang bắt đầu chịu sức ép với nguyên nhân do nhu cầu yếu: giá đầu ra giảm nhanh hơn trong tháng 11, trong khi giảm giá đầu vào đã đỡ được phần nào.

Chỉ số phụ việc làm suy giảm trở lại cho thấy các nhà sản xuất đang ngày càng thận trọng hơn trong việc tăng thêm số lượng nhân viên.

Như vậy, tăng trưởng xuất khẩu sẽ có khả năng chậm hơn nữa trong suốt quý I/2016, khi mà từ đầu năm đến nay đã giảm từ mức 8,5% trong tháng 10 xuống còn 8,3% trong tháng 11 so với cùng kỳ năm ngoái và 13,4% trong năm 2014.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy, lực kéo chính xuất phát từ nhu cầu ở khu vực đồng tiền chung châu Âu thấp hơn (thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam), từ các nước ASEAN và Nhật Bản.

Xuất khẩu sang Mỹ – vẫn là điểm đến số một cho hàng hóa Việt – đã chậm lại so với năm 2014, nhưng vẫn giữ mức tăng mạnh 17,6%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc đã tăng 28,8% trong 11 tháng đầu năm 2015, phản ánh tình hình FDI vừa khởi động (trong năm 2015, Hàn Quốc là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam).

Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia HSBC, không nên quá bi quan về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam.

Bởi, trong tháng 11, FDI đã thực hiện từ đầu năm đến nay đang theo đúng kế hoạch khi giữ mức cao kỷ lục 13 tỷ USD và có thể vượt qua ngưỡng 15 tỷ USD trong năm 2015.

Trong thời gian tới, các hoạt động đầu tư mới sẽ thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam, ngay cả khi nhu cầu toàn cầu đang khó khăn. Dự báo xuất khẩu sẽ hồi phục đạt mức 13,1% trong năm 2016 so với cùng kỳ.

Những nỗ lực tự do hóa trương mại gần đây sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam tiếp tục nắm bắt thị phần thị trường toàn cầu, tăng thêm cơ hội cho lĩnh vực sản xuất của Việt Nam.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia của HSBC, tin tốt là một phần quan trọng của con số tăng 13,7% từ đầu năm đến nay của hoạt động nhập khẩu có liên quan đến nhu cầu nhập khẩu thiết bị cố định.

Nhập khẩu máy móc thiết bị vẫn duy trì mức tăng mạnh trong năm 2015 và vẫn đang trên đà phát triển gần mức tăng trưởng 25% của năm ngoái. Điều đáng lưu ý là hoạt động nhập khẩu máy móc đã thực sự đi song song với nguồn vốn FDI được thực hiện.

Song, xem xét kỹ về tài khoản thương mại, thì lại thấy nhập khẩu thiên về tiêu dùng cũng tăng.

Nhập khẩu xe hơi hoàn chỉnh đã tăng 96,7% so với năm ngoái, thêm khoảng 1 điểm phần trăm vào tăng trưởng nhập khẩu từ đầu năm đến nay.

“Mối nghi ngại của chúng tôi rằng việc thâm hụt thương mại nới rộng không chỉ bởi vì nhu cầu cho các đầu vào dự án FDI nhiều hơn khi chúng ta nhìn vào khoảng cách khá lớn giữa cán cân thương mại của khối đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước”, các chuyên gia của HSBC nhận định.

Trong quá khứ, thâm hụt thương mại của các doanh nghiệp trong nước,

đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn nhà nước, đã mở rộng về hướng tiêu thụ tín dụng và đầu tư. Vay nợ trở lại cũng đang khiến cho thâm hụt tăng thêm.

“Mặc dù chưa ở mức báo động, tăng trưởng tín dụng vẫn đang thể hiện mạnh hơn trong năm 2015 thúc đẩy nhu cầu trong nước và đẩy mức tăng trưởng từ đầu năm đến quý III/2015 đạt 6,5% so với cùng kỳ, tăng so với mức 5,6% trong suốt thời điểm năm ngoái”, báo cáo nêu rõ.

Tiêu thụ đã đặc biệt mạnh, trong quý III/2015 tăng 9,1% tính từ đầu năm so với cùng kỳ.

Mức cải thiện của tín dụng, cùng với sự phấn khích hơn về những thay đổi trong quy định sở hữu nước ngoài của Việt Nam cũng đã châm ngòi cho sự hồi sinh của thị trường bất động sản, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chính Minh, Đà Nẵng và Hải Phòng.

Cho đến nay, tín dụng cho với lĩnh vực bất động sản hồi phục còn khá nhẹ, ở mức 14,6% tính từ đầu năm đến tháng 9 so với cùng kỳ và không giống với thời kỳ đầu cơ thái quá dẫn đến sự sụp đổ của thị trường bất động sản trong năm 2008 và lặp lại trong năm 2012.

Thực tế, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đang rất tích cực hồi phục thị trường bất động sản, bởi vì giá nhà cửa phục hồi sẽ thúc đẩy giá trị ký quỹ của các ngân hàng và giúp lĩnh vực ngân hàng thoát khỏi vấn đề nợ xấu đang tồn tại.

Quý III/2016, tăng lãi suất thêm 0,5%

Các chuyên gia của HSBC dự báo, lạm phát sẽ tăng từ mức thấp kỷ lục 0,5% trong năm 2015 lên mức 4,8% vào cuối năm 2016.

Các chuyên gia cũng kỳ vọng nhu cầu nội địa tăng dần sẽ dẫn tới áp lực lạm phát cao hơn trong năm 2016.

Nhờ vào giá cả hàng hóa toàn cầu thấp hơn, mức lạm phát toàn phần trung bình đang có vẻ tăng chậm lại ở mức thấp kỷ lục 0,5% trong năm 2015 so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi năm 2014 là 4,1%.

Tuy nhiên, báo cáo CPI tháng 11 đã đưa ra một vài dấu hiệu thăm dò là lạm phát đang bắt đầu thoát khỏi mức đáy.

Cụ thể, sau khi đã rơi vào ngưỡng giảm phát nhẹ vào đầu thu vừa qua, lạm phát toàn phần đã tăng đạt 0,3% trong tháng 11 so với cùng kỳ năm ngoái nhờ vào giá nhiên liệu và mức lạm phát cơ bản có sự phục hồi nhẹ ở mức 1,6% so với cùng kỳ từ mức 1,4%

Điều này chắc chắn không phải là nguyên nhân chính để đưa ra bất kỳ lời cảnh báo nào trong thời điểm hiện tại.

Tuy nhiên, với tăng trưởng mạnh có khả năng sẽ tiếp tục trong những quý tới, các chuyên gia cho rằng, lạm phát sẽ phục hồi ở mức 3,1% vào cuối nửa đầu năm 2016 so với cùng kỳ, một phần là nhờ những hiệu ứng cơ bản.

“Chúng tôi kỳ vọng lạm phát sẽ tăng lên mức 4,9% vào cuối năm 2016 so với cùng kỳ. Chính vì vậy, chúng tôi vẫn khẳng định Ngân hàng Nhà nước sẽ phải chuyển sang biện pháp quản lý thắt chặt vào năm sau và kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ tăng lãi suất thêm 0,5% nữa trong quý III/2016 đưa mức lãi suất thị trường mở lên 5,5%”, các chuyên gia nhân định.

Cùng với việc tăng các mức lãi suất trong quý III/2016, thì nguy cơ thắt chặt đang đến gần.

Kể từ năm 2011, Việt Nam đang có mức thặng dư tài khoản vãng lai khá thoải mái nhờ vào sự thay đổi mạnh trong cán cân thương mại hàng hóa và nguồn kiều hối ổn định.

Tuy nhiên, cán cân thương mại hàng hóa bị xói mòn đã dẫn đến thặng dư tài khoản vãng lai ngày càng thu hẹp lại.

Đặc biệt, trong quý I/2015, cán cân tài khoản vãng lai đã rơi vào ngưỡng thâm hụt 1 tỷ USD, mức thâm hụt đầu tiên trong gần bốn năm qua. Công

bằng mà nói thì sự sụt giảm này mang tính thời vụ.

Tuy nhiên, các chuyên gia của HSBC cũng cho rằng, những mức thâm hụt này sẽ dần trở nên bình thường trong những quý.

Trong năm 2016, dự báo cán cân tài khoản vãng lai sẽ rơi vào ngưỡng thâm hụt tương đương khoảng 1,6% GDP từ mức thặng dư ước tính 0,2% trong năm 2015 và 5,1% trong năm 2014.

Về mặt vốn, HSBC kỳ vọng nguồn vốn FDI dồi dào sẽ tiếp tục hỗ trợ cán cân thanh toán chung của Việt Nam.

“Tuy nhiên, điều này có lẽ không đủ”, các chuyên gia lưu ý.

Bởi, cân bằng cán cân thương mại đang chịu áp lực bởi thặng dư tài khoản vãng lai ngày càng mỏng và dòng vốn đổ ra ngoài nước ngắn hạn.

Trạng thái căng thẳng trên thị trường ngoại tệ cùng với sự thay đổi bất thường của đồng Nhân dân tệ trong tháng 8 đã tạo thêm áp lực đối với cán cân thanh toán.

Dữ liệu từ IMF cho thấy, nguồn dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã giảm 6,7 tỷ USD trong quý III/2015 còn 30,3 tỷ USD vào cuối tháng 9 vừa qua, tương ứng với 2,1 tháng nhập khẩu (trong khi đó vào tháng 6 là 2,6 tháng).

Việc thâm hụt tài khoản vãng lãi có thể trở lại trong năm 2016 có nghĩa rằng cán cân thanh toán có thể vẫn chịu nhiều áp lực trong năm 2016 và cả 2017. “Thách thức vĩ mô của Việt Nam bị giới hạn về thời gian, tuy nhiên, NHNN có thể chọn chính sách tiền tệ thắt chặt trong năm sau để duy trì định hướng tăng trưởng bền vững”, báo cáo viết./.

 

An Nhi